Mẹo: Ấn hotkey ← và → hoặc Z và X để xem nhanh hơn
class Câu chuyện

Steve Jobs - Nhà sáng lập, cựu CEO của Apple

Tôi cho rằng anh không phù hợp với Apple và anh không nên là người điều hành nó nữa. Thực sự anh nên rời khỏi công ty đi. Tôi chưa từng thấy lo ngại cho Apple nhiều như bây giờ. Tôi lo ngại về anh đấy. Anh cũng chưa từng biết gì về điều hành cả.”

Đó là những lời lẽ được thốt ra từ Steve Jobs với một giọng nói căng thẳng nhưng đầy tự chủ. Vào ngày 24 tháng Năm năm 1985, vị doanh nhân được ca tụng nhiều nhất thời đại chúng ta là Steve Jobs đã chỉ định John Sculley, người được ông đích thân lựa chọn, giữ chức vụ CEO trong một cuộc họp nhân sự cấp cao tại phòng họp của ban giám đốc.

Hai năm trước, khi được hội đồng quản trị ủng hộ nhiệt liệt, Jobs đã đưa Sculley gia nhập vào đội ngũ Apple từ PepsiCo, nơi Sculley đang giữ chức chủ tịch. Nhưng mối quan hệ từng được giới truyền thông ca ngợi như “cặp bài trùng” của hai người đã hoàn toàn sụp đổ.

Jobs tiếp tục với giọng gay gắt hơn: “John, anh quản lý quá chuyên chế! Anh không hiểu gì về quy trình phát triển sản phẩm. Việc sản xuất anh cũng không biết nốt. Anh không rành về máy tính. Ngay cả mấy tay phó giám đốc cũng không tôn trọng anh. Năm đầu tiên, anh đã giúp xây dựng công ty, nhưng đến năm thứ hai thì anh đã làm tổn hại nó đấy.”


Đối với Jobs, đây là khởi đầu cho một kết thúc. Mọi nỗ lực của Jobs để hội đồng quản trị chống lại Sculley đã không diễn ra như mong đợi của ông. Ngược lại, họ quay sang ủng hộ Sculley, người giờ đây trở thành đối thủ của Jobs và tán thành quyết định loại bỏ ông khỏi vai trò quản lý hằng ngày. Khi bị giáng chức khỏi vị trí chủ tịch, Jobs buộc phải dọn ra khỏi văn phòng và chuyển sang địa điểm khác để “nghiên cứu về những chiến lược và cải tiến cho sản phẩm mới”. Bốn tháng sau, Jobs từ chức.

Những chuyện xảy ra với Jobs vào giữa thập niên 80 của thế kỷ XX là cơn ác mộng tồi tệ nhất của mọi doanh chủ: Công ty do bạn dốc hết mồ hôi, máu và nước mắt xây dựng đã bị tước khỏi tay bạn chỉ vì một “nhà quản lý chuyên nghiệp” được tuyển để giúp xây dựng công ty muốn bạn phải rời khỏi công ty; hoặc vì những nhà đầu tư bạn đã từng hết lòng tin tưởng trước đây lại nghĩ rằng công ty đã tăng trưởng vượt khỏi tầm quản lý của bạn...

Người ta thường nói khi chiến thắng thì mọi thứ thật dễ dàng, nhưng khi thất bại, con người mới bộc lộ hết bản chất của mình. Bị đẩy ra khỏi công ty do chính mình gây dựng, Jobs dĩ nhiên đã cảm thấy rất cay đắng, nhưng ông cũng là một người kiên cường tột bậc và luôn hết mình trong công việc.


Vào thời điểm đó, với những tổn thương sâu sắc đang gánh chịu trong lòng, Steve Jobs đã trả lời phỏng vấn rằng: “Tôi đã chọn sai người. Ông ta đã phá hủy tất cả những gì tôi đã xây dựng suốt mười năm qua, bắt đầu từ tôi. Nhưng đó không phải là điều đáng buồn nhất. Tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Apple nếu công ty phát triển theo hướng tôi mong muốn. Tôi cảm giác như có ai đang đấm vào bụng và hạ gục tôi. Khi đó, tôi chỉ mới 30 tuổi và tôi muốn có cơ hội để tiếp tục tạo nên nhiều thứ khác.”

Bên cạnh Apple, Jobs từng thành lập một số công ty khác như Công ty máy tính NeXT Computer hay Hãng phim hoạt hình Pixar. Thế nhưng, giờ đây Jobs phải đứng ngoài lề của Apple và chứng kiến công ty sụp đổ. Jobs nói một cách chua xót: “Điều đang hủy hoại Apple không phải là sự kém phát triển mà là những giá trị trong công ty. John Sculley đã phá hỏng Apple bằng việc đưa những giá trị thối nát vào hệ thống điều hành và đầu độc những nhà quản lý khác. Ông ta loại bỏ những người không chịu thỏa hiệp và mang về những kẻ tệ hại rồi trả cho họ hàng chục triệu đô-la. Tất cả những gì chúng quan tâm là tiếng tăm và tiền bạc chứ không phải những giá trị đã tạo nên Apple – tạo ra những chiếc máy tính tuyệt vời cho người sử dụng.”

Thế nhưng, sự ra đi của Jobs vào năm 1985 đã tạo nên bước ngoặt cho một trong những cuộc trở lại ngoạn mục nhất trong lịch sử kinh doanh. Mọi diễn biến của câu chuyện này sánh ngang với bất kỳ tác phẩm nào của đại thi hào Shakespeare. Nó tựa như một câu chuyện cổ tích, một hành trình kinh doanh tưởng chừng không thể nào có thực.

Phải đến 11 năm sau Jobs mới thực sự quay về Apple. Trong quãng thời gian đó, những quyết định sai lầm liên tiếp của các vị giám đốc điều hành đã gần như đẩy công ty đến bờ vực phá sản. Năm 1996, khi Apple chỉ còn trong tình trạng thoi thóp thì Jobs mới được mời quay trở lại và giữ chức vụ quyền giám đốc điều hành.

Jobs kể rằng: “Đó là một thời điểm đầy chông gai vì chỉ còn khoảng 90 ngày nữa Apple sẽ phá sản. Khi tôi quay về, mọi thứ tồi tệ hơn những gì tôi tưởng tượng. Tôi cứ ngỡ rằng những người tài giỏi đều đã rời bỏ Apple. Nhưng tôi đã nhìn thấy những con người kỳ diệu, những con người tuyệt vời vẫn ở lại công ty. Tôi đã lịch thiệp hỏi họ rằng: ‘Sao các anh vẫn còn ở đây?’ Nhiều người trong số họ chỉ trả lời rất ngắn gọn: ‘Bởi vì sáu màu sắc này là cuộc sống của tôi.’ Đó là sáu màu sắc trong logo cũ của Apple. Điều đó cũng có nghĩa là ‘Tôi yêu tất cả những gì thuộc về Apple.’ Nó đã trở thành nguồn sức mạnh giúp tất cả chúng tôi làm việc hết mình để hồi sinh Apple.”


Những gì xảy ra sau đó đã đi vào lịch sử – một lịch sử hết sức nổi tiếng thời điểm này: thương hiệu Mac vươn đến đỉnh cao trong cả dòng máy tính xách tay và máy tính để bàn; sự ra đời đầy thành công của các đại lý của Apple cũng như những cái tên như Ipod, iTunes, iPhone và iPad. Từ một doanh nghiệp thua lỗ một tỷ đô-la mỗi năm, Apple đã chuyển mình và vươn lên thành một trong những tập đoàn siêu lợi nhuận và được ngưỡng mộ nhất trên toàn thế giới, với doanh thu hằng năm luôn vượt mức 100 tỷ đô-la.

Cũng từ đấy, Steve Jobs đã trở thành doanh chủ điển hình nhất nước Mỹ, được tôn vinh khắp nơi trên thế giới như một nhà chiến lược có tầm nhìn, một thiên tài và một vị cứu tinh doanh nghiệp. Jobs đáng giá hơn một triệu đô-la khi ông 23 tuổi; hơn mười triệu đô-la khi ông 24 tuổi và hơn 100 triệu đô-la khi ông 25 tuổi. Nhưng điều này chẳng hề quan trọng với ông. Đương thời, Steve Jobs, người chỉ nhận vỏn vẹn một đô-la mỗi năm trong cương vị chủ tịch của Apple, đã nâng giá trị bản thân lên hơn tám tỷ đô-la. Tháng Tám năm 2011, Jobs đã khiến toàn thế giới bất ngờ khi ông từ bỏ chức vị CEO ở tuổi 56 sau nhiều năm chịu đựng các vấn đề về sức khỏe. Năm 2004, ông được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tụy, đã di căn đến gan và buộc phải tiến hành phẫu thuật cấy ghép gan. Dù Jobs không công bố rõ nguyên nhân từ chức nhưng rất nhiều người lo ngại rằng sức khỏe của ông đã suy giảm nghiêm trọng. Trong bức thư từ chức gửi hội đồng quản trị, Jobs đã viết: “Tôi luôn nói rằng nếu một ngày nào đó tôi không còn đủ sức gánh vác trách nhiệm cũng như sự kỳ vọng mà mọi người đặt lên vai một CEO của Apple thì chính tôi sẽ là người đầu tiên cho các bạn biết điều đó. Thật không may, ngày đó đã đến.”

Đối với Jobs, đó là một hành trình dài đầy kỳ diệu. Là một người được sinh ra trong thập niên 60 của thế kỷ trước, ông luôn bị ám ảnh về ký ức thời thơ ấu với những đêm trằn trọc trong suốt thời kỳ diễn ra Cuộc khủng hoảng hạt nhân Cuba năm 1962: “Mỗi tối, tôi luôn lo sợ nếu mình ngủ quên thì sáng mai mình sẽ không còn thức dậy được nữa.” Ông cũng không quên ngày mình nghe tin Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát khi đang đi qua bãi cỏ trong sân trường ở Mountain View, bang California. Lúc đó, Jobs mới có tám tuổi.

Cha của ông, Paul Jobs, là một thợ máy chưa tốt nghiệp trung học. Cha ông từng tháo rời một phần chiếc bàn làm việc của mình trong ga-ra để cho cậu con trai tập tành lắp ráp. Nhưng người đã hướng Jobs đến với các thiết bị điện tử chính là một kỹ sư làm việc tại Công ty Hewlett-Packard (thường viết tắt là HP), người sống cách gia đình Jobs vài căn. Nhờ vậy, Jobs đã nhận được công việc thời vụ vào mùa hè cho HP. Tại đây, ông đã gặp gỡ Steve Wozniak, một kỹ sư máy tính có vẻ nhàm chán nhưng lại cực kỳ am hiểu về công nghệ. Steve Wozniak cũng chính là người đồng sáng lập Apple sau này. Khi ấy, Jobs mới 16 tuổi, còn Wozniak đã 21.


Năm 1972, Jobs tốt nghiệp cấp ba và ghi danh vào Đại học Reed ở Portland, bang Oregon. Nhưng ông chỉ học được một học kỳ rồi lại bỏ ngang. Dù vậy, ông vẫn theo học các lớp kiểm toán tại trường thêm một thời gian. Trong thời gian này, ông phải ngủ nhờ trên sàn nhà căn hộ của những người bạn, kiếm tiền mua thức ăn bằng cách đổi vỏ lon Coca-Cola và đến ngôi đền Hare Krishna để xin những bữa ăn miễn phí. Mùa thu năm 1974, Jobs quay trở lại California, nhận công việc kỹ thuật viên tại Hãng làm game Atari và bắt đầu tham dự các cuộc họp của Câu lạc bộ máy tính Homebrew cùng với Wozniak.

Đến năm 1976, cặp đôi này đã thành lập Apple sau khi Wozniak lắp ráp thành công một chiếc máy tính cá nhân thô sơ. Họ đã ra mắt chiếc máy tính lắp ráp thủ công này tại Câu lạc bộ Homebrew vào tháng Năm và nhanh chóng nhận được đơn đặt hàng 50 máy từ một chủ tiệm máy tính địa phương với giá tiền 500 đô-la cho mỗi máy.

Vậy là một hợp đồng kinh doanh được thiết lập và là sự khởi đầu thuận lợi để Apple trở thành một trong những doanh nghiệp vĩ đại nhất nước Mỹ sau này.


Về việc kết nối những sự kiện lại với nhau.

Tôi đã bỏ học chỉ sau sáu tháng đầu tiên theo học tại Đại học Reed, nhưng tôi vẫn ở lại thêm 18 tháng nữa trước khi tôi chính thức rời khỏi trường. Vậy tại sao tôi lại bỏ học?

Câu chuyện bắt đầu từ trước khi tôi chào đời. Khi sinh tôi ra, mẹ ruột của tôi vừa mới tốt nghiệp đại học và chưa kết hôn nên bà quyết định cho tôi làm con nuôi. Bà rất muốn tôi được những người có công ăn việc làm ổn định và đã tốt nghiệp đại học nuôi nấng tử tế và mọi thứ đã được sắp xếp để tôi được một cặp vợ chồng luật sư nhận nuôi. Lúc ấy, bà đã chuẩn bị tâm lý để giao tôi cho cặp vợ chồng luật sư đó. Tuy nhiên, đến phút chót, họ đã thay đổi ý định vì họ muốn một bé gái. Vì vậy, cha mẹ tôi bây giờ, lúc đó đang nằm trong danh sách chờ đợi, đã nhận được cuộc gọi vào lúc nửa đêm: “Chúng tôi có một bé trai mới sinh chưa có ai nhận. Ông bà có muốn nhận nuôi cháu không?” Họ nói: “Ồ, thật tuyệt.” Sau đó, mẹ ruột của tôi đã phát hiện người nhận nuôi tôi chưa bao giờ tốt nghiệp đại học, thậm chí cha tôi bây giờ còn chưa tốt nghiệp cấp ba nên bà từ chối ký vào giấy tờ giao nhận con nuôi. Nhưng vài tháng sau, bà đã mủi lòng và nhượng bộ khi cha mẹ nuôi tôi hứa rằng sau này nhất định sẽ cho tôi vào đại học.

Mười bảy năm sau, tôi thực sự bước chân vào giảng đường đại học. Nhưng tôi lại dại dột chọn một trường thuộc hàng đắt đỏ gần như ngang bằng Đại học Stanford. Cha mẹ nuôi của tôi, những người thuộc tầng lớp lao động tay chân, đã phải dùng toàn bộ số tiền dành dụm để đóng học phí cho tôi. Sau sáu tháng học tập, tôi không thấy lợi ích gì từ việc đó cả. Tôi không biết mình muốn làm gì với cuộc đời của mình và cũng không có niềm tin rằng trường đại học sẽ giúp tôi tìm ra câu trả lời. Tôi lại còn tiêu hết số tiền mà cha mẹ tôi đã phải dành dụm cả đời. Thế là tôi quyết định bỏ học và tin rằng mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Đó là một quyết định thật đáng sợ. Nhưng bây giờ nhìn lại, tôi nhận ra nó là một trong những quyết định đúng đắn nhất tôi từng thực hiện. Kể từ giây phút ấy, tôi không còn phải chịu đựng những môn học bắt buộc mà tôi không có hứng thú nữa và bắt đầu theo học các môn mà tôi cảm thấy thú vị hơn nhiều.

Nhưng mọi chuyện sau đó lại không dễ chịu chút nào cả. Tôi không được ở trong ký túc xá, vì thế tôi đã phải ngủ nhờ dưới sàn nhà trong phòng của bạn bè. Tôi đổi mỗi vỏ lon Coca-Cola lấy năm xu để có tiền mua thức ăn và phải đi bộ hơn 11km băng qua thành phố vào mỗi tối Chủ nhật để nhận một bữa ăn miễn phí tại đền thờ Hare Krishna. Nhưng tôi thích thế. Chính những gì tôi trải qua trong quá trình đi theo sự tò mò và trực giác của mình đã trở thành những điều vô giá cho tôi sau này.

Để tôi cho anh một ví dụ. Lúc đó, Đại học Reed có lẽ là trường có khóa học thư pháp chất lượng nhất trong cả nước. Mọi mẫu chữ trên các áp-phích hay mọi nhãn tên trên các ngăn kéo khắp khuôn viên trường đều được viết kiểu thư pháp rất đẹp. Vì tôi đã bỏ học và không phải lên lớp nữa nên tôi quyết định tham gia khóa học thư pháp. Tôi đã tìm hiểu về các kiểu chữ serif và sans serif, về cách đặt khoảng cách khác nhau giữa các mẫu chữ và kỹ thuật trình bày một bản in có nhiều kiểu chữ đẹp. Những kiểu chữ đó rất đẹp, mang chất cổ kính, vừa sắc sảo vừa tinh tế theo một cách mà khoa học không thể hiểu hết được và tôi thấy chúng thật hấp dẫn.

Những kiến thức này tưởng chừng như chẳng có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc có thể ứng dụng những điều này vào cuộc đời mình. Thế nhưng 10 năm sau, khi chúng tôi đang thiết kế chiếc máy tính Macintosh đầu tiên, tất cả mọi thứ đã quay trở lại với tôi. Chúng tôi đã áp dụng toàn bộ những kiến thức này vào việc thiết kế thật nhiều kiểu chữ cho chiếc máy tính Mac. Đó là chiếc máy tính đầu tiên có các kiểu chữ rất đẹp. Nếu năm xưa tôi không học khóa thư pháp thì chiếc máy tính Mac sẽ không bao giờ có những kiểu chữ được xếp đặt cân đối như vậy. Từ khi Windows bắt chước Mac thì chiếc máy tính cá nhân nào cũng có những kiểu chữ đó. Nếu không bỏ học, tôi đã không bao giờ học lớp thiết kế chữ này và các máy tính cá nhân có thể cũng không có được những mẫu chữ tuyệt diệu như bây giờ. Dĩ nhiên, khi còn đi học tôi chưa thể hình dung được những điều này. Nhưng mười năm sau nhìn lại thì tôi đã nhận ra lợi ích của khóa học đó rất rõ.

Anh không thể xâu chuỗi các sự kiện trong tương lai được; anh chỉ có thể làm được điều đó với những sự kiện trong quá khứ thôi. Vì vậy, anh phải có niềm tin rằng các điểm ấy bằng cách nào đó sẽ tự kết nối trong tương lai. Anh phải tin tưởng vào một điều gì đó, có thể là sự quyết tâm, số phận, cuộc sống, thuyết nhân quả hay đại loại thế. Phương pháp này chưa bao giờ làm tôi thất vọng và nó đã tạo nên tất cả những sự khác biệt trong cuộc đời tôi.


Về việc đổi mới.

Anh hãy cố gắng tiếp cận những điều tốt đẹp nhất mà con người đã tạo nên và sau đó hãy vận dụng những điều đó vào những thứ anh đang thực hiện. Họa sĩ Picasso từng nói rằng: “Người biết sao chép là một họa sĩ giỏi nhưng người biết đánh cắp là một họa sĩ vĩ đại.” Chúng ta vẫn luôn xấu hổ về việc ăn cắp những ý tưởng tuyệt vời. Thế nhưng, một phần tạo nên chiếc máy tính Macintosh vĩ đại chính là những người sáng tạo ra nó – những nhạc sĩ, nhà thơ, các họa sĩ, các nhà sử học, sinh thái học – những người đồng thời cũng là những nhà khoa học máy tính hàng đầu thế giới.


Về các mô hình kinh doanh.

Mô hình cho doanh nghiệp của tôi chính là nhóm nhạc The Beatles. Họ là bốn chàng trai có thể kiểm soát được khuynh hướng tiêu cực của nhau; họ cân bằng lẫn nhau. Khi kết hợp lại thì khả năng của cả nhóm luôn cao hơn khả năng của mỗi người cộng lại. Những điều tuyệt vời trong kinh doanh không thể thực hiện bởi một người mà chúng là kết quả của cả một nhóm người.


Về các khả năng mới.

Có không ít người suy nghĩ tuyệt vọng rằng chẳng bao giờ có khả năng nào mới mẻ cả, nhưng tôi thì nghĩ ngược lại. Lý do là vì tâm trí con người luôn nhìn thế giới xung quanh theo một lối mòn, điều đó là sự thật và sẽ luôn là vậy. Tôi luôn cho rằng cái chết là một phát minh vĩ đại nhất của cuộc đời. Tôi chắc chắn rằng cuộc sống lúc đầu đã phát triển mà không hề có cái chết và chợt thấy rằng nếu không có cái chết, cuộc sống không thể tốt được vì nó không còn chỗ để nhường cho lớp trẻ. Chúng ta không biết được thế giới 50 năm trước như thế nào. Chúng ta cũng không biết được thế giới 20 năm trước ra sao. Chúng ta chỉ thấy ngày hôm nay mà không có bất kỳ định kiến hay mộng tưởng gì. Chúng ta không hài lòng với những thành tựu của 30 năm qua. Chúng ta không hài lòng vì tình trạng hiện tại không theo đúng lý tưởng. Nếu không có cái chết thì sẽ không có sự tiến bộ nào cả.

Một trong những điều thường xảy ra trong một tổ chức cũng như với con người, đó là họ thường bị đóng khung trong cách nhìn nhận thế giới xung quanh và dễ dàng thỏa mãn với mọi thứ. Thế giới luôn thay đổi và không ngừng tiến hóa; những tiềm năng mới luôn trỗi dậy nhưng những người sống mòn không thể nhìn thấy nó. Điều đó trở thành ưu thế lớn nhất cho các công ty khởi nghiệp. Những quan điểm lỗi thời hầu hết xuất phát từ các công ty lớn. Thêm vào đó, trong các công ty lớn thường không có cầu nối giữa những người có thể tạo ra sự đổi mới và những người có quyền đưa ra quyết định cho công ty.

Trong công ty, những nhân viên ở vị trí thấp hơn có thể nhìn thấy trước những thay đổi sắp xảy ra, nhưng đôi khi phải mất đến mười năm các nhà điều hành mới nghe được những đề xuất của họ và thực hiện chúng. Ngay cả trong trường hợp khi cấp dưới đang làm những điều đúng đắn thì thường cấp trên lại phá hoại bằng cách nào đó. IBM và việc kinh doanh máy tính cá nhân là một ví dụ điển hình cho điều này. Tôi nghĩ rằng con người không cần phải giải quyết việc bị đóng khung trong cái nhìn hạn hẹp về thế giới, vì như thế thì các công ty trẻ và những người trẻ tuổi mới có cơ hội để đổi mới.


Về tinh thần doanh chủ.

Rất nhiều người đến gặp và nói với tôi: “Tôi muốn trở thành một doanh chủ.” Tôi hỏi lại họ: “Tuyệt vời lắm! Vậy ý tưởng của bạn là gì?” Khi họ trả lời: “Tôi vẫn chưa nghĩ ra”, tôi chân thành khuyên họ: “Tôi nghĩ bạn nên đi tìm một công việc như phục vụ bàn hay đại loại như thế cho đến khi bạn tìm thấy niềm đam mê thực sự về kinh doanh, vì muốn làm doanh chủ thì sẽ phải làm việc cật lực đấy.” Tôi tin rằng một nửa những gì tạo nên sự khác biệt giữa những doanh chủ thành công và những người không thành công đơn giản chỉ là sự kiên trì.

Việc này thật sự không đơn giản đâu. Anh phải đầu tư rất nhiều điều trong cuộc sống vào việc quản lý một doanh nghiệp. Có những thời điểm rất khắc nghiệt mà tôi nghĩ rằng hầu hết mọi người đều bỏ cuộc khi vấp phải. Tôi không trách họ. Việc này thực sự khó khăn và anh phải dành cả cuộc đời cho nó. Nếu anh đã có gia đình và lại đang điều hành những ngày đầu tiên của công ty, tôi không thể tưởng tượng nổi anh có thể xoay sở như thế nào. Tôi nghĩ rằng anh sẽ sắp xếp được thôi nhưng sẽ rất khó khăn. Anh sẽ phải hoạt động một ngày 18 tiếng và liên tục suốt cả tuần trong một thời gian dài. Trừ khi anh có niềm đam mê lớn lao với công việc, nếu không anh sẽ không thể chịu đựng nổi. Anh sẽ từ bỏ. Vì vậy, anh phải có một ý tưởng, hoặc một vấn đề hay một sai lầm cần khắc phục khiến anh quyết tâm thực hiện. Nếu không, anh sẽ không có nổi sự kiên trì để cống hiến hết mình. Tôi nghĩ rằng một nửa trận chiến nằm ở niềm đam mê này.


Về mục tiêu cuối cùng của ông.

Mục tiêu của chúng tôi là tạo ra những chiếc máy tính tốt nhất thế giới, tạo ra những sản phẩm mà chúng tôi có thể tự hào bán ra thị trường cũng như tự hào giới thiệu với gia đình và bạn bè mình. Chúng tôi muốn làm điều đó với mức chi phí thấp nhất có thể. Nhưng tôi phải nói với anh rằng, có một số điều trong ngành công nghiệp mà chúng tôi sẽ không thể tự hào khi giao sản phẩm và không thể tự hào giới thiệu với gia đình và bạn bè. Chúng tôi không thể làm những sản phẩm như vậy. Chúng tôi không thể giao cho khách hàng những thứ đồ bỏ đi được. Vì vậy, có những ngưỡng cửa mà chúng tôi cũng không thể vượt qua vì chúng tôi không muốn. Chúng tôi muốn làm ra những chiếc máy tính tốt nhất trong ngành công nghiệp này. Điều quan trọng là ngành công nghiệp cũng có nhu cầu cho chúng. Anh sẽ nhận thấy rằng sản phẩm của chúng tôi không phải là quá đắt. Anh hãy ra ngoài, khảo sát giá sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh với chúng tôi và thêm vào những phụ phẩm để chúng có thể hoạt động tốt nhất. Trong một số trường hợp anh sẽ thấy những sản phẩm đó còn đắt hơn sản phẩm của chúng tôi nhiều. Nhưng điều khác biệt ở đây là chúng tôi sẽ không đem đến cho anh một sản phẩm tệ hại.


Về việc nghiên cứu thị trường và những chuyên gia tư vấn.

Chúng tôi không làm nghiên cứu thị trường và cũng không thuê các chuyên gia tư vấn. Trong suốt mười năm qua, nguồn tư vấn duy nhất tôi từng thuê là một công ty phân tích chiến lược bán lẻ trước đây của Công ty Gateway. Tôi không muốn phạm phải những sai lầm tương tự như họ (Gateway) khi mở cửa các chuỗi đại lý của Apple. Nhưng chúng tôi không bao giờ muốn thuê chuyên gia tư vấn. Chúng tôi chỉ muốn tạo ra những sản phẩm tuyệt vời.

Chúng tôi tạo ra ứng dụng kho nhạc trên iTunes vì chúng tôi cho rằng sẽ rất tuyệt vời nếu khách hàng có thể mua nhạc trên thiết bị điện tử, chứ không phải vì chúng tôi đã có sẵn kế hoạch tái định hình ngành công nghiệp âm nhạc. Chuyện đó cũng giống như việc anh viết trên tường rằng cuối cùng tất cả âm nhạc sẽ được phân phối theo hướng điện tử hóa. Tại sao lại phải trả nhiều tiền để mua nhạc chứ? Ngành công nghiệp âm nhạc luôn có lợi nhuận rất cao. Việc gì phải trả cả đống tiền vì anh có thể chuyển nhạc qua thiết bị điện tử một cách dễ dàng.


Về cách tuyển dụng nhân sự cho Apple.

Khi tôi tuyển dụng một nhân viên cao cấp, tôi luôn đánh cược vào năng lực của ứng cử viên. Họ phải thực sự thông minh. Nhưng điều quan trọng nhất với tôi là họ có yêu thích Apple không. Nếu có tình yêu công việc, mọi thứ khác sẽ ổn thỏa. Họ sẽ muốn làm những gì tốt nhất cho Apple chứ không phải những điều tốt nhất cho họ, cho Steve hay cho bất cứ ai khác.

Tuyển dụng thật sự rất khó khăn. Nó giống như việc mò kim dưới đáy bể vậy. Chúng tôi phải đích thân thực hiện và dành nhiều thời gian cho nó. Cả đời tôi có thể đã tham gia tuyển dụng hơn 5.000 người. Có thể nói, tôi rất nghiêm túc trong việc tuyển dụng. Anh không thể biết hết từng ứng viên chỉ trong một giờ phỏng vấn. Đến cuối cùng anh vẫn dựa vào trực giác của mình. Tôi cảm thấy thế nào về con người này? Họ sẽ ra sao khi đương đầu với thử thách? Tại sao họ lại ở đây? Tôi thường hỏi tất cả mọi người rằng: ‘Tại sao bạn lại đến đây hôm nay?’ Cái ta mong chờ không phải là câu trả lời của họ mà là những hàm ý trong câu trả lời đó.


Về tình yêu và sự mất mát.

Tôi đã may mắn sớm tìm thấy điều mình thật sự yêu thích. Woz (Woznick) và tôi lập ra Apple trong nhà để xe của bố mẹ tôi khi tôi mới 20 tuổi. Cả hai đã làm việc rất chăm chỉ và trong vòng mười năm, Apple đã phát triển từ hai người trong một nhà để xe trở thành một công ty trị giá hai tỷ đô-la với hơn 4.000 nhân viên. Trước năm tôi bước sang tuổi 30, chúng tôi đã cho ra đời một kiệt tác – máy tính Macintosh. Sau đó, tôi bị đuổi việc. Làm sao anh có thể bị đuổi khỏi công ty của chính mình cơ chứ? Khi Apple phát triển, chúng tôi đã tuyển một người mà tôi nghĩ rằng có đủ tài năng để cùng điều hành công ty với mình. Trong năm đầu, mọi thứ đều thuận buồm xuôi gió. Nhưng rồi những định hướng tương lai của chúng tôi bắt đầu khác biệt và cuối cùng chúng tôi rơi vào tranh cãi. Khi đó, hội đồng quản trị đã đứng về phía anh ta. Tôi đã rời khỏi công ty lúc 30 tuổi và đã ra đi một cách rất công khai. Tâm huyết của cả một quãng đời trưởng thành của tôi đã biến mất và tôi thật sự cảm thấy suy sụp vì điều đó.

Thật sự tôi không biết phải làm gì trong vài tháng sau đó. Tôi cảm thấy mình đã làm cho các thế hệ doanh nhân đi trước thất vọng – tôi đã đánh rơi ngọn đuốc khi nó được truyền đến tay mình. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce để xin lỗi vì đã làm hỏng mọi thứ. Tôi là một điển hình của sự thất bại trong mắt mọi người và thậm chí tôi còn nghĩ đến việc chạy trốn khỏi Thung lũng Silicon. Nhưng một điều gì đó bắt đầu trỗi dậy trong tôi: Tôi vẫn yêu những gì tôi đã làm. Những biến động ở Apple cũng không thể lay chuyển tình yêu trong tôi dù chỉ một chút. Tôi đã bị ruồng bỏ, nhưng tôi vẫn yêu công việc của mình. Và thế là tôi quyết định làm lại từ đầu.

Lúc đó, tôi đã không nhận thức được rằng việc bị sa thải khỏi Apple là điều tốt nhất từng xảy đến với tôi. Áp lực thành công đã được trút bỏ, thay vào đó là sự nhẹ nhàng của một người khởi đầu từ bàn tay trắng. Điều này đã giải phóng tôi hoàn toàn để tôi có thể bước vào thời kỳ sáng tạo huy hoàng nhất cuộc đời mình.

Trong 5 năm tiếp theo, tôi mở một công ty tên là NeXT, rồi thêm một công ty khác là Pixar. Tôi cũng đã đem lòng yêu Laurene, một người phụ nữ tuyệt vời, người sau này đã trở thành bạn đời của tôi. Pixar đã tạo ra Toy Story, bộ phim hoạt hình đầu tiên trên thế giới được đồ họa trên máy tính và giờ đây đã trở thành hãng phim hoạt hình thành công nhất thế giới. Trong một sự kiện mang tính bước ngoặt, Apple đã mua lại NeXT và tôi trở lại Apple, mang theo những công nghệ của NeXT để tái sinh Apple một lần nữa. Tôi và Laurene cũng đã xây dựng nên một gia đình tuyệt vời.

Tôi tin chắc rằng những điều kỳ diệu trên sẽ không xảy ra nếu tôi không bị sa thải khỏi Apple. Đó là một liều “thuốc đắng dã tật”. Đôi khi cuộc đời sẽ ném đá vào anh nhưng anh đừng vội mất niềm tin trong cuộc sống. Tôi tin rằng điều duy nhất đã tiếp sức cho tôi chính là tình yêu với những việc tôi làm. Quan trọng là anh phải tìm thấy những gì mình yêu thích. Điều đó đúng trong cả sự nghiệp lẫn tình yêu. Công việc chiếm một phần lớn của cuộc đời anh nên cách duy nhất để anh thực sự cảm thấy thỏa mãn là làm tốt công việc của mình. Và cách duy nhất để làm tốt công việc là anh phải yêu những gì anh đang làm. Nếu anh chưa tìm thấy nó, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng an phận. Tất cả tùy thuộc vào trái tim anh, anh sẽ biết khi bạn tìm thấy nó. Giống như bất kỳ mối quan hệ tuyệt vời nào, công việc đó sẽ tốt đẹp thêm theo năm tháng. Vì vậy, hãy cứ liên tục tìm kiếm. Đừng an phận.


Về cái chết.

Khi 17 tuổi, tôi đã đọc được một câu danh ngôn thế này: “Nếu bạn sống mỗi ngày như ngày cuối cùng của đời mình, đến một ngày nào đó bạn sẽ thấy đó là điều đúng đắn.” Câu danh ngôn này đã gây ấn tượng mạnh với tôi và kể từ đó, trong suốt 33 năm qua, mỗi sáng tôi luôn nhìn vào gương và tự hỏi: “Nếu hôm nay là ngày cuối cùng của đời mình, liệu mình có muốn làm những việc hôm nay mình sẽ làm không?” Và khi câu trả lời là “Không” trong nhiều ngày liên tiếp, tôi biết mình cần thay đổi điều đó.

Việc luôn nhớ rằng một ngày nào đó mình sẽ chết là một bí quyết quan trọng giúp tôi tạo ra những cơ hội lớn trong cuộc đời. Hầu hết mọi thứ – mọi kỳ vọng, mọi niềm kiêu hãnh, mọi sợ hãi, xấu hổ hay thất bại – đều sẽ biến mất khi đối diện với cái chết và chỉ còn lại những điều thật sự quan trọng. Luôn nhớ rằng mình sẽ chết là cách tốt nhất để tránh sa vào cái bẫy của việc nghĩ rằng mình có điều gì đó để mất. Thật sự thì không có điều gì để mất đâu. Chẳng có lý do gì để không nghe theo sự mách bảo của trái tim mình cả.

Năm 2004, tôi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Tôi đã phải đi chụp cắt lớp từ 7 giờ 30 phút sáng và kết quả cho thấy rõ ràng tôi có một khối u ở tuyến tụy. Thậm chí, tôi còn không biết tuyến tụy là gì. Các bác sĩ nói với tôi rằng đó gần như là một loại ung thư không chữa được và tôi chỉ còn sống được từ ba đến sáu tháng nữa thôi. Bác sĩ khuyên tôi về nhà thu xếp mọi chuyện ổn thỏa. Đây là cách mà bác sĩ ngụ ý rằng “Hãy lo hậu sự đi”. Điều đó có nghĩa là trong vòng vài tháng ngắn ngủi còn lại, hãy nói với con cái của anh những gì mà anh dự định sẽ nói với chúng trong mười năm tới. Điều đó cũng có nghĩa là anh phải đảm bảo mọi thứ đã được sắp xếp ổn thỏa và chu đáo nhất cho gia đình anh. Điều đó cũng có nghĩa là anh phải nói lời từ biệt cuối cùng.

Cả ngày hôm ấy tôi chỉ nghĩ đến những chẩn đoán của bác sĩ. Tối đó, tôi còn phải khám lại. Người ta cho đèn nội soi vào cổ họng, xuống dạ dày và ruột non, lấy kim chích vào tuyến tụy để lấy ra một số tế bào từ khối u. Lúc đó, tôi rất bình thản. Nhưng vợ tôi kể lại khi các bác sĩ soi các tế bào dưới kính hiển vi, họ đã reo lên vì phát hiện ra đây là một dạng rất hiếm của ung thư tuyến tụy và có thể chữa được bằng phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và thật may bây giờ thì tôi khỏe rồi.

Đấy là lần gần nhất tôi đối mặt với cái chết và tôi hy vọng đó vẫn sẽ là lần gần nhất trong vài chục năm tới. Sau khi trải qua điều đó, bây giờ tôi có thể nói với anh điều này.

Không ai muốn chết cả. Ngay cả những người khao khát muốn lên thiên đường cũng không muốn chết chỉ để được tới đó. Cái chết là đích đến cuối cùng của tất cả chúng ta. Không ai có thể trốn thoát được nó. Đó là điều nên có bởi lẽ cái chết chính là phát minh tuyệt vời nhất của sự sống. Nó là tác nhân thay đổi cuộc đời. Nó loại bỏ những cái cũ để mở đường cho cái mới. Ngay bây giờ, cái mới chính là các anh, nhưng không lâu sau, các anh sẽ trở thành cái cũ và sẽ bị loại bỏ. Xin lỗi vì đã bi kịch hóa chúng, nhưng đó là sự thật.

Thời gian của anh là hữu hạn nên đừng phí phạm nó bằng cách sống cuộc đời của bất kỳ ai khác. Đừng mắc kẹt trong những giáo điều và suy nghĩ của người khác. Đừng để những ý kiến ồn ào xung quanh đánh chìm tiếng nói bên trong anh. Điều quan trọng nhất là hãy dũng cảm đi theo trái tim và trực giác của anh. Chúng biết anh thực sự muốn gì. Mọi điều còn lại chỉ là thứ yếu mà thôi.

Trích Họ đã làm gì để thay đổi thế giới?

1 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

Mark Zuckerberg - Nhà sáng lập kiêm CEO của Facebook

Ngày nay, nếu có một doanh chủ nào có khả năng truyền cảm hứng cho hàng triệu người trẻ tuổi theo đuổi giấc mơ khởi nghiệp thì người đó chính là Mark Zuckerberg. Là người bỏ học giữa chừng và nổi tiếng trên thế giới với vai trò nhà sáng lập mạng xã hội Facebook, Mark Zuckerberg trở thành chủ đề cho bộ phim bom tấn của Hollywood, rồi xuất hiện trong chương trình 60 Minutes cũng như một chương trình khác của Oprah Winfrey và được bình chọn là Người đàn ông của năm trên tạp chí Time.

Mặc dù Zuckerberg và bạn của anh mới thành lập Facebook vào tháng Hai năm 2004 nhưng trang mạng xã hội này đã nhanh chóng thu hút hơn 750 triệu người tham gia và bỏ ra 700 triệu phút sử dụng mỗi tháng. Trong suốt mùa hè năm 2011, khi bắt đầu có tin đồn rằng Facebook đang có kế hoạch chào bán ra công chúng, một số người tin rằng công ty sẽ có giá trị khoảng từ 40 đến 100 triệu đô-la.

Tuy nhiên, khi Zuckerberg và những người đồng sáng lập Dustin Moskovitz, Chris Hughes và Eduardo Saverin cho ra mắt Facebook từ phòng trọ của anh ở Đại học Harvard, anh chưa bao giờ nghĩ rằng nó sẽ là một công việc kinh doanh. Thực tế, Zuckerberg còn tuyên bố rằng anh chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện đó. Thay vào đó, anh và các bạn thường đắm chìm vào những buổi trao đổi về việc con người có thể kiểm soát lượng thông tin khổng lồ trên thế giới trên Internet như thế nào.


Những buổi thảo luận sôi nổi đó đã giúp cho chàng thanh niên 19 tuổi Zuckerberg xây dựng một ứng dụng cho phép sáu nghìn sinh viên Harvard kết nối được với bạn bè và gia đình. Điều thú vị là anh ấy chỉ mất “một vài tuần” để lập trình ra nó.

Anh chia sẻ: “Thực sự, tôi dứt khoát không muốn xây dựng một công ty. Do đó, trong khi đa số mọi người muốn công bố ứng dụng tại các trường mà họ cho rằng sẽ có nhiều khả năng thành công nhất, tôi lại muốn công bố nó ở các trường mà tôi thấy sẽ có ít khả năng nhất. Đó là những trường đã có một số hình thức cộng đồng. Lý do tôi làm như vậy là vì tôi muốn biết rằng, vào lúc đó, liệu đây có phải là việc đáng để đầu tư nhiều thời gian như những dự án khác hay không.”

Câu trả lời rõ ràng là “có”, sự thật rõ ràng là vậy. Vào tháng Ba năm 2004, chỉ một tháng sau khi ứng dụng này ra mắt ở Đại học Harvard, Facebook được nhân rộng ra các trường Stanford, Columbia và Yale. Tháng Sáu, Zuckerberg và các bạn chuyển đến Palo Alto, California với hy vọng sẽ ở đây đến hết mùa hè rồi trở lại Harvard. Nhưng rồi sự hào hứng về việc xây dựng công ty ở Thung lũng Silicon đã giữ chân họ. Họ quyết định ở lại. Vào cuối năm thứ nhất, Facebook đã có gần một triệu người sử dụng. Sau khi có được 12,7 triệu đô-la vốn đầu tư từ Accel Partners vào tháng Năm năm 2005, Facebook đã mở rộng ra hơn 800 trường đại học.

Zuckerberg nhanh chóng tạo ra nhiều cải tiến vì anh ấy là một lập trình viên xuất sắc. Anh đã bắt đầu sử dụng máy tính và viết phần mềm khi còn học trung học. Ông Edward, cha của Zuckerberg, một bác sĩ nha khoa, đã dạy anh lập trình trên Atari BASIC vào những năm 1990. Sau đó, ông còn thuê một người phát triển phần mềm làm gia sư cho Zuckerberg. Anh tiến bộ rất nhanh chóng, đặc biệt là trong việc phát triển các công cụ truyền thông, trò chơi và cả chương trình nghe nhạc. Chương trình Synapse Media Player của Zuckerberg sử dụng trí thông minh nhân tạo để ghi nhớ thói quen nghe nhạc của người dùng và thu hút sự chú ý của Microsoft và AOL. Hai công ty không chỉ mua phần mềm này mà còn tuyển thẳng Zuckerberg vào làm việc tại công ty sau khi tốt nghiệp Học viện Phillips Exeter. Tuy nhiên, anh lại chọn Đại học Harvard.

Đây là một bước đi thông minh của Zuckerberg. Vào năm thứ hai ở Đại học Harvard, Zuckerberg viết mã lập trình cho một chương trình phần mềm có tên là CourseMatch, giúp sinh viên lựa chọn lớp học dựa trên những lựa chọn của các sinh viên khác. Ngoài ra, phần mềm này còn giúp sinh viên lập các nhóm học tập. Sau đó, anh tạo ra chương trình gọi là Facemash cho phép sinh viên có thể bầu chọn người có khuôn mặt đẹp nhất hoặc có thân hình hấp dẫn nhất từ các bức ảnh. Tuy trang này chỉ mới xuất hiện một tuần nhưng nó đã được đông đảo sinh viên yêu thích đến nỗi làm quá tải máy chủ của trường và buộc phải đóng lại. Sau sự kiện đó, Facebook ra đời. Và phần còn lại chính là những gì đã, đang và tiếp tục nhìn thấy trong tương lai.


Từ ý tưởng đến doanh nghiệp.

Từ những cuộc đối thoại giữa tôi và các bạn học, chúng tôi đưa ra ý tưởng về việc chúng tôi nghĩ thế giới sẽ đi về đâu và điều gì định hướng sự phát triển của Facebook đến bây giờ. Chúng tôi đưa ra đa phần là những quyết định mang tính kỹ thuật cũng như việc đưa những người thông minh về cùng làm việc. Những người thông minh nhất mà tôi từng biết là những người đã tham gia xây dựng Facebook và rất nhiều người trong số họ vẫn đang ở đây. Đó là những người từng dạy tôi ở trường, từng là bạn học của tôi.

Tôi nhận ra rằng xây dựng một công ty là cách tốt nhất để kêu gọi nhiều người cùng tập hợp lại để làm một điều thật vĩ đại. Nếu cái mà họ đang xây dựng là tốt, bạn có thể hợp tác và thưởng cho họ nếu sản phẩm hoạt động tốt. Tôi chỉ mất vài tuần để xây dựng phiên bản đầu tiên của Facebook. Việc đó diễn ra khá nhanh đối với một hệ thống có quy mô lớn như thế. Tôi thuê một máy chủ với giá 85 đô-la/tháng. Và từ đó, chúng tôi nhận được hàng triệu lượt xem mỗi ngày. Có thời điểm, có 10 đến 20% sinh viên Harvard đăng nhập cùng lúc. Tất cả mọi thứ chỉ trong tuần đầu tiên.

Sau đó, tôi có thêm nhiều người giỏi cùng tham gia. Cuối cùng, chúng tôi chuyển đến California. Ban đầu, chúng tôi không có ý định sẽ chuyển đến đó. Chúng tôi chỉ muốn đi tham quan trong mùa hè vì chúng tôi nghĩ rằng: “Tất cả những công ty công nghệ tuyệt vời đều đến từ Thung lũng Silicon. Chẳng phải sẽ rất tuyệt nếu có cả mùa hè ở đó và trải nghiệm những công ty đó sao.”

Chúng tôi dự định quay lại Đại học Harvard vào mùa thu. Tuy nhiên, Harvard có một chính sách rất tuyệt cho phép bạn có thể nghỉ học bao nhiêu lâu tùy thích. Vì thế, chúng tôi quyết định: “Được rồi, chúng ta sẽ nghỉ một học kỳ và tiếp tục xây dựng mọi thứ đã.” Có thêm nhiều người tham gia với chúng tôi. Tại thời điểm đó, chúng tôi chính thức hợp thành một công ty và nhận được vốn đầu tư từ Peter Thiel, nhà đầu tư đầu tiên của chúng tôi. Sau đó, mọi thứ cứ phát triển và chúng tôi có tới hơn một triệu người sử dụng trong năm đầu tiên chạy trang này.

Được một thời gian, chúng tôi quyết định rằng: “Được rồi, chúng ta sẽ bỏ học kỳ thứ hai của Harvard.” Sau đó, bạn biết đấy, mọi thứ lại tiếp tục phát triển và chúng tôi có gần năm triệu người dùng. Chúng tôi lại nghĩ: “Chúng ta bỏ nốt năm cuối đi.” Và sau đó thì: “Mình đoán là chúng mình sẽ không quay lại nữa đâu.” Nhưng tôi chưa bao giờ đưa ra một quyết định lớn theo kiểu: “Được rồi, mình sẽ bỏ học và bắt đầu thành lập công ty.” Việc đó xảy ra từ từ và theo từng giai đoạn. Chúng tôi luôn suy nghĩ cho bước kế tiếp.


Về những dự án khởi nghiệp trên Internet.

Một trong những điều tuyệt vời của Internet là những thị trường này rất hiệu quả. Với những loại hình kinh doanh truyền thống, bạn phải mất rất nhiều năm đầu tư trước khi biết được liệu việc mình đang làm có thành công hay không. Giờ đây, việc hoàn thành một cái gì đó chỉ trong một ngày cuối tuần hoặc trong hai tuần như phiên bản đầu tiên của Facebook là hoàn toàn khả thi.

Sau đó, bạn chỉ việc công bố và xem rằng liệu nó có thỏa mãn được thị trường hoặc có thể là thứ gì đó mà bất kỳ ai cũng có thể dùng hay không. Từ đó, bạn có thể có thông tin phản hồi ngay tại chỗ và điều chỉnh việc bạn đang làm một cách nhanh chóng.


Về văn hóa hacker của Facebook.

Tôi đã tìm hiểu những công ty trong Thung lũng Silicon và thật sự muốn tạo dựng một công ty công nghệ. Một số công ty tự gọi mình là công ty công nghệ nhưng thực sự không phải vậy. Chúng tôi luôn cố gắng có được những nhân viên và doanh nhân có hiểu biết về công nghệ trong quá trình điều hành công ty. Kể cả ở vị trí công việc không mang tính kỹ thuật cũng vậy. Một trong những nhân viên marketing của chúng tôi cũng hiểu biết về công nghệ.

Trong quá trình phát triển, chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi không giống những công ty khác. Google là một công ty công nghệ mà tôi ngưỡng mộ. Họ có một nền văn hóa học thuật rất mạnh mẽ. Họ thực hiện rất nhiều nguyên cứu và có nhiều người mang học vị tiến sĩ. Điều khiến chúng tôi tự hào về bản thân là đã tạo ra tầm ảnh hưởng lớn, có văn hóa hacker và tạo cho mọi người cơ hội để phát triển – đó cũng là những điều mà chúng tôi đang hướng đến. Chúng tôi có hơn 300 triệu người sử dụng và xấp xỉ gần 300 kỹ sư. Facebook có tỷ lệ người dùng so với tỷ lệ kỹ sư cao hơn bất kỳ một công ty nào khác.

Một trong những điều mà chúng tôi cam kết là xây dựng được đội ngũ nhân viên nhỏ gọn hơn. Trong công việc, chúng tôi thường xuyên cải tiến mã lập trình. Chúng tôi khuyến khích mọi người tự tạo ra sản phẩm của riêng mình. Chúng tôi có một công ty công nghệ luôn sáng tạo và đột phá.

Mục tiêu của chúng tôi không phải là mãi giữ chân nhân viên. Có những công ty đào tạo nhân viên rất tốt. Rất nhiều sinh viên Harvard làm việc cho McKinsey. Nhiều người đến làm cho IBM vì đó là nơi tốt nhất để học về bán hàng. Rất nhiều người đến USC để học cách chơi bóng bầu dục. Mục tiêu của Facebook là trở thành một nơi tốt nhất để học cách tạo ra mọi thứ. Nếu bạn muốn học cách để tạo nên những sản phẩm tốt, có ý nghĩa thực tiễn và có ảnh hưởng lớn, tôi có thể nói rằng không có nơi nào khác giúp bạn làm điều đó tốt hơn Facebook.

Nếu các bạn muốn, các bạn có thể đến Facebook trong một, hai hay ba năm. Steve Chen, người sáng lập ra Youtube, cũng từng làm việc ở Facebook. Tôi không khuyến khích mọi người làm việc ở Facebook rồi ra đi. Nhưng tôi nghĩ rằng bạn sẽ học được những kỹ năng đáng giá. Chúng tôi không làm ra vẻ rằng chúng tôi đang xây dựng một công ty mà mọi kỹ sư công nghệ sẽ làm việc tại đó mãi mãi. Tôi chỉ muốn góp phần xây dựng một vài tổ chức thành những nơi có văn hóa hacker lớn mạnh về lâu dài.


Về việc tập trung và hành động thật nhanh.

Bạn chỉ nên tập trung vào một vài thứ mà bạn quan tâm và phải nhanh chóng hành động. Bạn cần phải từ bỏ một số thứ. Tôi nghĩ đó là một phần lớn trong công việc của một CEO. Bạn tuyển một nhóm để gây dựng nên mọi thứ và bạn đề ra phương hướng hoạt động. Điều quan trọng là cần xác định xem bạn sẽ đánh đổi điều gì để đạt được thành công.

Chúng tôi nghĩ rằng cuối cùng người ta sẽ đánh giá bạn qua những gì bạn xây dựng được chứ không phải qua vẻ bên ngoài. Tôi nghĩ sẽ có rất nhiều áp lực trong nội bộ các công ty khi mà mọi người muốn bắt đầu thật suôn sẻ. Nhưng điều quan trọng hơn là không ngừng cải thiện theo thời gian. Hãy liều lĩnh nhiều hơn nữa. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể thành công lớn được.


Về việc chấp nhận rủi ro.

Rủi ro lớn nhất mà bạn phải đối mặt là không chấp nhận bất kỳ rủi ro nào. Ở một thế giới mà mọi thứ đều diễn ra nhanh chóng, bạn nên biết rằng nếu bạn không thay đổi bạn sẽ thua. Việc không liều lĩnh là việc rủi ro nhất bạn có thể làm. Bạn phải làm những điều táo bạo kể cả khi chúng không rõ ràng.

Hôm qua, chúng tôi đã đưa ra một thay đổi trên Facebook giúp bạn biết được các sự kiện mới nhất hoặc những cập nhật thú vị nhất. Bất kể điều gì chúng tôi làm, nếu nó thay đổi trang mạng, sự thay đổi đó sẽ thực sự gây tranh cãi trong cộng đồng người dùng, nhất là khi bạn đang cung cấp dịch vụ web mà mọi người không được can thiệp trực tiếp vào.

Giá trị sẽ không là gì cả nếu chúng không tạo ra tranh cãi. Chúng tôi muốn tiến lên nhanh chóng và chúng tôi sẵn sàng từ bỏ rất nhiều thứ để có thể làm điều đó.


Về việc chuyển đến Thung lũng Silicon.

Tôi nghĩ đó là một quyết định có ích cho tôi vì khi bắt đầu công việc tôi chỉ mới 19 tuổi. Có nhiều thứ mà tôi không biết và đến giờ vẫn thế. Thung lũng Silicon là một nơi tuyệt vời để gặp gỡ những kỹ sư tài năng. Ở đây đã có sẵn cơ sở hạ tầng để giúp các công ty từ khi mới bắt đầu, dù cho đó là một cộng đồng đầu tư hay cộng đồng luật hoặc là những lĩnh vực khác. Những điều kiện đó đã giúp tôi rất nhiều. Tuy nhiên, tôi nghĩ những điều kiện đó cũng có thể có hại nữa.


Vì sao anh lại quyết định giữ chức CEO?

Đây chỉ là ý kiến của tôi qua ngành công nghiệp công nghệ và lịch sử của nó: Tôi nghĩ rằng một công ty thành công thường được lãnh đạo bởi chính những người sáng lập ra nó. Những người này hiểu vì sao công ty được thành lập và có đủ sự tín nhiệm trong công ty để có thể đưa ra quyết định cần thiết. Thế giới thay đổi rất nhanh và việc điều hành công ty một cách hiệu quả, theo tôi, là một phần cực kỳ quan trọng. Một vài người chỉ cho tôi một số số liệu thú vị rằng trong số những công ty đại chúng, những công ty được điều hành bởi chính người sáng lập thành công hơn hẳn số còn lại.


Về việc có mục đích rõ ràng.

Chúng tôi có ý thức rất rõ về mục đích của công ty. Bạn biết đấy, chúng tôi không bắt đầu Facebook với mục đích xây dựng một trang mạng hoặc thành lập công ty. Chúng tôi bắt đầu nó vì chúng tôi muốn tạo một thế giới mở và liên kết hơn. Tạo dựng một trang mạng là một bước tiến đến với điều đó. Tôi nghĩ rằng nền tảng mà chúng tôi đang phát triển là thứ làm tôi hào hứng nhất. Chúng tôi có gần một triệu nhà phát triển đang xây dựng nhiều thứ, từ những sinh viên tập tành lập trình như tôi đã từng làm, đến những doanh nghiệp nhỏ và lớn có doanh thu hàng trăm triệu đô-la. Họ xây dựng những sản phẩm của riêng họ từ nền tảng của Facebook. Điều đó thật tuyệt vời.


Về việc mắc sai lầm.

Có rất nhiều thứ tôi muốn làm khác đi. Nhìn chung, tôi đã mắc rất nhiều sai lầm và đó đều là những sai lầm đáng giá. Chúng tôi đã trở nên tốt hơn khi mắc phải phần lớn những sai lầm đó, nhưng tôi cũng cho rằng chúng tôi đã làm rất tốt việc giữ vững những giá trị của công ty và trung thành với những dự định ban đầu của mình. Chúng tôi cũng đã có nhiều quyết định đúng đắn về kỹ thuật và sản phẩm trong suốt quá trình hoạt động cũng như có những quyết định mang tính văn hóa để đảm bảo những người tốt nhất sẽ đến làm việc tại đây và nhanh chóng tạo ra ảnh hưởng lớn. Tôi nghĩ rằng đây là những điều quan trọng nhất. Nếu bạn hiểu đúng những điều này thì bạn có quyền mắc sai lầm.

Thật ra, một trong những giá trị cốt lõi của Facebook đó là “Tiến nhanh”. Chúng tôi từng phát biểu điều này thành châm ngôn “Tiến nhanh và đột phá” với ý nghĩa: Nếu bạn không có đột phá nào tức là bạn chuyển động chưa đủ nhanh. Tôi nghĩ điều này về cơ bản là đúng. Điều tôi muốn nói ở đây là ngay lúc này, chúng tôi đang tối ưu hóa văn hóa của mình để biến công ty trở thành nơi mọi người có thể đến và tạo dựng mọi thứ một cách nhanh chóng.

Từ việc có công cụ hợp lý trong một môi trường phát triển phù hợp để tạo dựng mọi thứ nhanh chóng, cho đến những buổi tối viết mã thâu đêm hay việc tuyển những người tài năng có thể thúc đẩy sự phát triển, tất cả đều xoay quanh việc tiến nhanh. Tôi nghĩ rằng sẽ có một vài thứ trong đó cho các doanh nghiệp học hỏi và việc mắc lỗi là hoàn toàn bình thường.

Cuối cùng, mục tiêu xây dựng một thứ gì đó vẫn là xây dựng, chứ không phải phạm sai lầm. Để rút ra bất kỳ kết luận hợp lý nào, bạn luôn phải lỡ bước một vài lần trên cả quãng đường. Tôi nghĩ mọi việc rồi sẽ ổn nếu bạn học được nhiều điều từ chúng và biến chúng thành những hành trang hữu ích trên con đường đến nơi mà bạn muốn đến.

Trích Họ đã làm gì để thay đổi thế giới?

1 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Video

Steve Jobs - Thiên tài gàn dở của Apple

"Đôi khi bạn sẽ mắc sai lầm khi sáng tạo. Điều quan trọng là phải nhanh chóng thừa nhận nó và tiếp tục phấn đấu"
comment
2 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

Cô gái Việt phát triển ứng dụng học tiếng Anh sử dụng trí tuệ nhân tạo, được báo Mỹ ca ngợi là ai?

Là gương mặt nổi bật của báo Tuổi Trẻ 10 năm trước, Văn Đinh Hồng Vũ từng chia sẻ mơ ước trở thành đại sứ của Việt Nam. Tham vọng ấy hoàn toàn trong tầm tay của cô sinh viên Ngoại thương đa tài và giỏi 3 ngoại ngữ. Mới ngoài 20 tuổi, Vũ đã tự tin đại diện thanh niên Việt Nam đi qua 10 nước, tham dự hội nghị thượng đỉnh về các vấn đề giáo dục và hướng nghiệp toàn cầu.

Song, những chuyến đi ấy dần thay đổi giấc mơ đại sứ của Vũ bằng khát vọng cải tiến giáo dục. Sau khi tốt nghiệp, cuộc đời cô là hành trình 10 năm lập nghiệp từ Đan Mạch đến Mỹ, qua 2 học bổng Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh và Giáo dục của Ðại học Stanford. Hiện tại, dừng chân ở Thung lũng Silicon, Vũ trở thành nhà xã hội - khởi nghiệp trong ngành giáo dục. Đầu năm 2011, cô lập ra Quỹ Vietseeds, cung cấp học bổng bậc đại học cho học sinh nghèo Việt Nam. Gần đây nhất (năm 2014), Vũ khởi nghiệp cùng ứng dụng nhận diện giọng nói ELSA, giúp người học ngoại ngữ khắp nơi trên thế giới phát âm sát nhất với ngôn ngữ bản xứ.

Và cũng ít ai biết rằng, để theo đuổi đam mê, Văn Đinh Hồng Vũ từng 2 lần từ bỏ vị trí đáng mơ ước ở các tập đoàn hàng đầu thế giới. 3 năm tu nghiệp ở Đan Mạch, Vũ là người châu Á đầu tiên nắm giữ vị trí trợ lý Tổng Giám đốc của Maersk, tập đoàn vận tải và năng lượng có chi nhánh trải khắp 136 quốc gia với 89.000 nhân viên. Sau đó, Vũ lại bỏ ngang vị trí trưởng dự án cấp cao cho Booz & Company, 1 trong 4 tập đoàn tư vấn đứng đầu nước Mỹ. Không chút tiếc nuối, Vũ nói:“Tôi đã thu thập đủ kiến thức quản trị và nhân tài suốt 10 năm qua. Đã đến lúc tôi bắt đầu làm điều mình muốn trong lĩnh vực công nghệ và giáo dục”.

Dạy nói với công nghệ Elsa

ELSA (English Language Speech Assistant) gắn liền với kỷ niệm lần đầu Vũ dự hội thảo sinh viên tại Đức năm 2002. Trước lúc đến, Vũ chẳng mảy may nghi ngờ khả năng tiếng Anh của bản thân. Kỳ lạ thay, không ai ở Ấn Ðộ hiểu cô nói gì. “Ngay đêm đó, tôi đã gặp một người bạn Mỹ báo sẽ rút khỏi buổi thuyết trình sáng hôm sau. Chỉ có mình tôi đại diện Việt Nam, nói không ai hiểu thì thật xấu hổ...”, Vũ nhớ lại.

Nhưng người bạn không cho phép Vũ bỏ cuộc. Anh ngồi cùng cô suốt cả đêm chỉ để đọc đi đọc lại từng câu trên bài thuyết trình, để cô bắt chước cách nhấn nhá và phát âm từng chữ. Vũ có lại sự tự tin, nhưng cô vẫn không ngừng nghĩ về lỗ hổng trong giảng dạy phát âm kể từ đấy.

“Bạn không nhận ra phát âm quan trọng đến nhường nào đâu, cho đến khi sống và làm việc ở nước ngoài”, Vũ giải thích. Gần 10 năm sống xa nhà, cô chứng kiến rất nhiều du học sinh giỏi không thể leo lên vị trí lãnh đạo trong các tập đoàn, chỉ vì cách phát âm không giống người bản xứ. Rắc rối tưởng như rất nhỏ đó lại là cản trở lớn trong ngoại giao và thăng tiến, đặc biệt trong những nghề đòi hỏi kỹ năng giao tiếp cao như tư vấn hay luật sư.

Thế là từ năm 2013, Vũ mời các chuyên gia dạy nói (Speech Therapist) để xây dựng nội dung cho ELSA. Mỗi giờ dạy của họ trị giá 200 USD với lượng học viên rất giới hạn, còn ứng dụng ELSA (khi hoàn tất) sẽ có giá tối ưu, nên phù hợp với nhiều người ở mọi quốc gia.

“Về phần công nghệ, ELSA được lập trình để mô phỏng cách dạy của các chuyên gia dạy nói hàng đầu nước Mỹ”, Vũ nói thêm. ELSA có đội ngũ kỹ sư và chuyên gia để thiết kế công nghệ nhận diện giọng nói hiện đại nhất ở Mỹ. Nhờ đó, ELSA không chỉ nhận diện chính xác các phát âm sai của người đọc mà còn giúp họ cải thiện từng âm sau khi luyện tập. Ngay sau vài ngày đầu phát động chiến dịch dùng thử sản phẩm, 1.000 người đăng ký dùng thử đã chen kín danh sách và hàng ngàn người đang xếp hàng chờ.

Đầu tư sâu để thay đổi cuộc đời

Trước khi dấn thân khởi nghiệp với ELSA, Văn Đinh Hồng Vũ đã là một nhà hoạt động xã hội rất tích cực. Quỹ Vietseeds của Vũ tuy bắt đầu hoạt động từ năm 2011, nhưng ý tưởng đã xuất hiện từ năm 2008 trên bài luận của cô ở khóa học Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh tại Đại học Stanford. Từ những chuyến đi hội thảo trong quá khứ, cô nghiệm ra rằng tiền có thể giúp người một thời gian ngắn, nhưng giáo dục có thể thay đổi đời một người. Vì thế, bài luận ấy là bản kế hoạch chi tiết kết hợp cả đồng tiền và giáo dục vào lĩnh vực từ thiện.

Về cơ bản, Vietseeds quyên tiền để hỗ trợ học sinh nghèo ở Việt Nam vào đại học. Không dừng lại ở việc quyên góp, Vũ nâng mô hình này lên thành vườn ươm lãnh đạo tương lai. “Ngoài suất 1.000 USD/năm cho học hành và ăn ở suốt 4 năm đại học, các em còn được mạnh thường quân và tình nguyện viên tổ chức các khóa huấn luyện thêm kỹ năng mềm như soạn thảo văn bản, làm việc nhóm, ngoại ngữ, định hướng nghề... để các em xóa hết mặc cảm, tự tin đi đầu khi làm việc ở thành phố”, cô cho biết.

Tính đến hiện tại, Vietseeds đã quyên góp một số tiền khá lớn từ 100 nhà tài trợ trong và ngoài nước. Nhưng suất học bổng thì vẫn giữ nguyên giá trị như ngày đầu là 1.000 USD/năm. Vì vậy, năm 2014, chỉ có 100 em được hỗ trợ. Thẳng thắn và kiên quyết, Vũ giải thích: “Đúng là tôi có thể chia 1.000 USD ra cho 5 em thay vì 1 em. Nhưng số tiền bị chia nhỏ đó tuy giúp được nhiều em hơn, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi nguyện đầu tư sâu để thay đổi hẳn cuộc đời mỗi em”.

Sau 5 năm hoạt động, 10 em đầu tiên tốt nghiệp đại học từ hỗ trợ của Vietseeds đã được nhận vào làm ở các vị trí mơ ước, một em đã hoàn tất học Thạc sĩ tại Mỹ. Toàn bộ số tiền quyên góp được chuyển đến học sinh, còn chi phí vận hành và mở các lớp huấn luyện kỹ năng phần lớn đều đến từ 2 nhà sáng lập là Văn Đinh Hồng Vũ và Vũ Duy Thức, Tiến sĩ ngành Công nghệ Thông tin ở Đại học Stanford.

Từ “Đại sứ” đến “Nhà hoạt động xã hội - khởi nghiệp” thoạt nhìn như 2 con đường khác hẳn nhau. Nhưng với Vũ, cả 2 đều thuộc một hành trình liền mạch. “Ngày trước và bây giờ tôi đều muốn làm một điều gì đó cho quê nhà. Để góp nhiều hơn một tiếng nói thời trẻ, tôi mới chuyển sang làm kinh tế và xã hội trong giáo dục. Bằng cách này, tôi sẽ đóng góp vào giáo dục nhiều giá trị thực tiễn hơn”, cô nói.

+
2 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

Adam Khoo: Từ cậu bé ngỗ nghịch thành triệu phú Singapore

Adam Khoo trở thành triệu phú Singapore khi chỉ 26 tuổi, sở hữu hơn 10 doanh nghiệp tại nhiều quốc gia châu Á với doanh thu hàng chục triệu USD mỗi năm.

Bên cạnh đó, ông cũng là tác giả của nhiều cuốn sách giáo dục và làm giàu bán chạy nhất châu Á.

Triệu phú Adam Khoo, đã từng đến Việt Nam tham gia các buổi đào tào, truyền cảm hứng thành công cho nhiều người Việt Nam. Ông không chỉ là một triệu phú thành đạt, mà ông còn giúp đỡ và làm thay đổi cuộc sống của hàng trăm nghìn người châu Á.

Trở thành triệu phú ở khi tuổi đời còn rất trẻ, mới 26 tuổi nên có thể nhiều người nghĩ, ông có năng khiếu bẩm sinh và gặp nhiều may mắn. Tuy nhiên, thực tế, ông đã từng chỉ là một cậu bé ngỗ nghịch, tưởng chừng không có tương lai.

Trước năm lớp 3, Adam Khoo đã bị đuổi khỏi trường vì học hành lười nhác và hay quậy phá. Mẹ Adam đã đưa Adam đến xin học ở nhiều trường, nhưng đều bị từ chối. Cuối cùng, Adam cũng được nhận vào một ngôi trường nhỏ mới mở. Nhiều năm sau, cậu bé Adam luôn đứng trong top 10 học sinh kém cỏi nhất của khóa.

Tuy nhiên, mọi sự thay đổi từ khi Adam Khoo được mẹ cho tham dự một khóa học về cách làm chủ cuộc sống. Những giảng viên ở đó đã giúp cậu bé ngỗ nghịch ngày nào nhận ra mình hoàn toàn có năng lực như bao người khác và chỉ cần có niềm tin vào bản thân cũng như chiến lược phù hợp như việc sử dụng bản đồ tư duy và phương pháp ghi nhớ nhanh. Với ý chí quyết tâm cao độ, Adam Khoo, từ học sinh kém cỏi nhất, chỉ trong vòng 1 năm đã vươn lên thành 1 trong số 18 học sinh giỏi nhất trường. Sau đó, Adam Khoo đã đạt được rất nhiều thành tích khác. Trong những năm học Đại học Quốc gia Singapore, ông luôn có trong danh sách những học sinh xuất sắc nhất của trường.

“Tôi đã từng nghĩ mọi người giỏi hơn mình, cộng với việc bố mẹ nghi ngờ về năng lực của tôi càng khiến tôi nản lòng. Nhưng thực tế bạn thấy đấy việc, tin tưởng bản thân, đồng thời đặt ra mục tiêu rõ ràng và kiên trì thực hiện, bạn sẽ làm được những điều mình mong muốn. Chính thái độ tiêu cực, không tin tưởng vào mình đã khiến chúng ta chùn bước, cản trở chúng ta thành công”, triệu phú Adam Khoo chia sẻ.

Trong những đợt nghỉ dài của trường, trong khi các bạn đi nghỉ mát, Adam đi làm kiếm thêm tiền, tích luỹ thêm kinh nghiệm. Năm 15 tuổi, ông đã bắt đầu kinh doanh. Năm 21 tuổi, Adam tiết kiệm được một khoản tiền lớn và đầu tư vào chứng khoán có lãi, sau đó quay lại tái đầu tư vào các công ty của ông. Đến năm 26 tuổi, Adam Khoo chính thức trở thành triệu phú trẻ nhất Singapore.

Khi được hỏi "Trong kinh doanh, có phải ông luôn thành công?", ông cho biết đã từng thua lỗ nhiều tiền, tuy nhiên, ông không coi đó là thất bại mà là kinh nghiệm để lần sau làm tốt hơn. Đó là lý do dẫn tới sự thành công của Adam Khoo.

+
2 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

Những điều có thể bạn chưa biết về cha đẻ của Pokemon Go

Ra mắt đầu tháng 7/2016, game di động Pokemon Go nhanh chóng gặt hái nhiều thành công mang tính cách mạng. Chỉ sau vài giờ sau kể từ khi ra mắt, Pokemon Go đã vươn lên vị trí dẫn đầu trong top các ứng dụng có lượng download nhiều nhất trên kho tải App store. Cơn sốt này mạnh tới nỗi máy chủ của Pokémon Go đã không chịu được nhiệt và bị quá tải vì phải đón nhận một lượng lớn truy cập cùng một lúc.

Chỉ trong hơn một tháng trở lại đây, “cơn bão” Pokemon Go đã “càn quét” và tạo nên một làn sóng lớn giữa những người sử dụng smartphone trên toàn thế giới.

Ở hầu khắp các kho tải ứng dụng và trên các biểu đồ thống kê về lượng download hàng ngày, trò chơi tương tác ảo (augmented reality) này đều thống trị.

Theo những thống kê gần đây, người sử dụng smartphone ở Mỹ thậm chí đang tiêu tốn số thời gian để chơi Pokemon Go còn nhiều hơn cả mạng xã hội hàng đầu là Facebook và thu hút số người dùng hàng ngày (daily active users) nhiều hơn cả mảng xã hội Twitter.

Sự thành công của Pokemon Go cũng khiến những “fan cuồng” của game tò mò về người đàn ông đứng sau nó - John Hanke, Giám đốc điều hành Niantic Labs, nhà phát hành Pokemon Go.

Mặc dù là một người giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực trò chơi trực tuyến và chương trình bản đồ, đã từng có nhiều đóng góp cho làng công nghệ, nhưng Hank phải mất tới 20 năm mới được thế giới biết đến như một tài năng lớn.

Dưới đây là một số điều có thể bạn chưa biết về người đàn ông này.

Tốt nghiệp trường Đại học California, Berkeley

John Hanke lớn lên ở Texas và nhận bằng cử nhân tại trường đại học Texas, Austin. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu trường kinh doanh Haas thuộc đại học California tại Berkeley và nhận tấm bằng MBA năm 1996. Kể từ 2008, Hanke làm nghiên cứu sinh ở đây.

Giúp tạo ra Google Earth

Thực tế, ý tướng game Pokemon Go đã được “thai nghén” từ vài năm trước, khi trong ngày cá tháng Tư, Google công bố một sản phẩm “hư cấu” có thể giúp người dùng truy lùng các chú Pokemon nhờ sử dụng Google Maps.

Năm 2001, Hanke thành lập công ty khởi nghiệp Keyhole và tạo ra chương trình mang tên Earth Viewer. Chương trình này giúp người dùng khám phá Trái đất nhờ vào các vệ tinh và công nghệ bản đồ 3D. Ứng dụng trở nên nổi tiếng khi được các chương trình tin tức sử dụng. Năm 2004, Google mua lại Keyhole với giá 35 triệu USD và Earth Viewer sau đó được đổi tên thành Google Earth.

Hanke cho biết, ông và nhóm của mình đã mang những kinh vốn có của mình để áp dụng trên Pokemon Go. “Nhiều người trong chúng tôi từng có thời gian dài làm việc với Google Maps và Google Earth. Vì vậy, chúng tôi muốn tạo ra tấm bản đồ tốt nhất”, Hanke trả lời tờ Mashable.

Từng làm việc với game nhập vai trực tuyến đầu tiên

Pokemon Go là sản phẩm game trực tuyến nổi tiếng nhất của Hanke, nhưng không phải là sản phẩm lớn đầu tay. Nhưng trên thực tế, ông đã từng giúp tạo ra trò chơi nhập vai online đầu tiên Meridan 59, phát hành năm 1996 dành cho PC. Theo đó, cũng giống như nhiều game nhập vai trực tuyến ngày nay, để được trải nghiệm, phiêu lưu để phiêu lưu cùng các thanh kiếm và nhiều trò phép thuật trong Meridan 59, người chơi sẽ phải trả phí hàng tháng.

Hanke cho biết, những gì đúc rút từ Meridan 59 đã được ông áp dụng thành công trên Pokemon Go. Việc các game thủ tương tác với nhau sẽ luôn mang lại những trải nghiệm thú vị hơn so với việc chơi với một chiếc máy tính đơn thuần.

Là người tạo ra trò chơi thực tế ảo Ingress

Trên thực tế, Pokemon Go được coi là một “bước tiến hóa” của một trò chơi cũ do John Hanke tạo ra, Ingress. Trò này được phát hành năm 2012, có cốt truyện xoay quanh một nguồn năng lượng kỳ lạ được khám phá ra bởi một số nhà khoa học. Nhiệm vụ của người chơi là tìm cách kiểm soát nguồn năng lượng đó trước khi nó trở thành mối đe dọa cho chính bạn.

Tương tự như Pokemon Go, Ingress sẽ yêu cầu bạn phải vận động và di chuyển liên tục nhưng không được dùng ô tô hay xe máy. Game đưa ra các “cổng thông tin” trên bản đồ, chính là các điểm mốc phổ biến trong thế giới thực như các tác phẩm điêu khắc, thư viện, nhà thờ...

Bạn sẽ phải tìm ra và đánh dấu chúng để xác lập lãnh thổ cho mình. Với những thành phố càng lớn thì số cổng thông tin càng nhiều.

Hanke cho biết, cả hai tựa game đều rất thú vị khi lồng ghép giữa thế giới thực và thế giới ảo. Hiện trò Igress vẫn là một trò được rất nhiều người yêu thích, được chơi ở 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Thậm chí, tại một sự kiện gần đây liên quan đến tựa game này tổ chức tại Nhật Bản đã thu hút hơn 10 nghìn người tham gia.

Hanke cho biết, “Khi phóng viên hỏi người chơi ‘Tại sao các bạn chơi trò này? Vì sao lại phải ra đường giữa đêm khuya để chơi?’ Ngay lập tức, họ nhận được câu trả lời ‘Thật tuyệt vời, nó đã thay đổi cuộc đời tôi. Tôi gặp thêm rất nhiều bạn và nhìn thế giới bằng con mắt hoàn toàn khác. Tôi đi bộ hàng cây số thay vì dán mắt vào TV.’ Đó là điểm rất tích cực”.

“AR mới chính là tương lai”

Những gã khổng lồ nghệ như Google và Sony hiện đang dốc toàn lực và hệ thống thực tế ảo (VR) như Oculus Rift. Tuy nhiên, Hanke lại tin rằng, những dạng game được phát triển theo công nghệ AR (Augmented Reality) như Pokemon Go mới chính là tương lai của các game thủ.

Trong một bài phỏng vấn, cha đẻ của Pokemon Go cho rằng, con người không phải được sinh ra để ngồi trong những căn phòng tối ôm với các thiết bị điện tử đeo trên đầu, thay vào đó, họ sẽ thích được ra ngoài, và tương tác với nhau hơn.

+
3 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

Tất tần tật về cuộc đời, con đường lập nghiệp và thành công của Elon Musk

Với những ai chưa biết, tôi muốn giúp các bạn tìm hiểu rõ hơn về con đường đưa Elon Musk trở thành tỷ phú tự thân, đồng thời là nguyên mẫu đời thực của nhân vật Tony Stark trong bộ phim Iron Man (Người Sắt). Tuy nhiên, trước hết, hãy để Richard Branson giải thích ngắn gọn:

Bất kể điều gì mà những kẻ hoài nghi nói rằng không thể làm thế được thì Elon đã đứng lên và thực hiện được. Bạn còn nhớ những năm 1990 chứ? Mỗi khi cần đặt mua một món đồ gì là chúng ta lại phải gọi điện và đọc số thẻ tín dụng của mình cho người bán hàng – dù không hề biết họ là ai? Khi ấy, Elon đã hình dung ra một thứ gọi là PayPal. Các công ty Tesla Motors và SolarCity của anh đang biến giấc mơ về một tương lai của năng lượng mới, sạch thành hiện thực... SpaceX thì đang mở ra con đường khám phá vũ trụ... Thực là một nghịch lý khi Elon vừa nỗ lực cải thiện hành tinh này lại vừa đóng tàu vũ trụ để giúp con người rời khỏi nó – Richard Branson, chủ tịch Virgin, đứng thứ 5 trong danh sách các doanh nhân giàu nhất nước Anh và tác giả của cuốn tự truyện nổi tiếng "Đường ra biển lớn".

Còn tôi, tôi chỉ thấy một vấn đề của Elon Musk là anh chàng này "tình cờ" có chân trong rất nhiều lĩnh vực: ô tô, hàng không vũ trụ, năng lượng Mặt Trời, dự trữ năng lượng, vệ tinh, vận chuyển trên mặt đất với tốc độ cao và đưa con người đặt chân tới nhiều hành tinh khác.

Có lẽ, thần Zeus còn ít căng thẳng hơn rất nhiều.

Con đường lập nghiệp của Elon Musk

Elon Musk sinh năm 1971 tại Nam Phi trong một gia đình có cha là kỹ sư và mẹ là chuyên gia dinh dưỡng kiêm người mẫu. Trải qua một tuổi thơ không mấy hạnh phúc và cũng không thể hòa nhập với bạn bè ở trường, Musk lựa chọn trở thành một cậu bé "mọt sách". Kimbal – em trai anh – từng tiết lộ rằng Musk thường đọc sách tới 10 tiếng/ngày – ban đầu chủ yếu là khoa học viễn tưởng và sau đó là những cuốn sách khoa học thực sự. Năm học lớp 4, Musk gần như dành trọn thời gian để ngấu nghiến cuốn Encyclopedia Britannica (Bách khoa toàn thư Britannica.).

Thứ mà bạn có thể thấy rõ khi tìm hiểu về tiểu sử Elon Musk đó là anh luôn nghĩ con người như những chiếc máy tính và theo nghĩa đen nhất, chúng ta thực sự là như vậy. Phần cứng của một con người đó chính là cơ thể và bộ não. Phần mềm - đó chính là cách tư duy, hệ thống giá trị, thói quen và tính cách. Và học tập, theo Musk, đơn giản là quá trình "tải xuống dữ liệu và các thuật toán vào trong bộ não". Musk quá thất vọng về việc học ở các lớp học truyền thống và anh nhận thấy ngồi nghe giáo viên giải thích về điều gì đó là một quá trình"tải xuống dữ liệu với tốc độ siêu chậm". Chính vì vậy, ở thời điểm đó, đa phần những gì anh biết đều nhờ đọc sách.

Elon Musk đắm chìm trong niềm đam mê thứ hai năm lên 9 tuổi khi anh lần đầu tiên được tiếp xúc với chiếc máy tính Commodore VIC-20, bao gồm 5 kilobyte bộ nhớ và một cuốn cẩm nang hướng dẫn lập trình giúp người dùng chinh phục kỹ năng này trong 6 tháng. Tuy nhiên, cậu bé 9 tuổi với bộ óc thông minh bẩm sinh đã hoàn thành nó chỉ trong 3 ngày. Ở tuổi 12, Musk đã tự tay thiết kế một video game có tên Blastar bằng những kiến thức mà anh đã tích lũy được (Musk nói với tôi rằng đó là một "trò chơi tầm thường... nhưng hay hơn Flappy Bird"). Năm 1983, Blastar đã được bán cho một tạp chí máy tính với giá 500 USD (tương đương khoảng 1.200 USD) – không tệ đối với một cậu bé chỉ mới 12 tuổi.

Musk chưa bao giờ cảm thấy có nhiều sự kết nối với quê hương của mình, chẳng hạn như không hòa nhập được với văn hóa của những người Afrikaner (những người châu Âu da trắng đến Nam Phi định cư trong giai đoạn đầu khai thác thuộc địa) và anh coi đây là đất nước "đầy ác mộng" cho những người nuôi giấc mơ khởi nghiệp. Tuy nhiên, anh lại coi thung lũng Silicon như là "miền đất hứa" và năm 17 tuổi, anh quyết định rời khỏi Nam Phi mãi mãi. Do mẹ là người Canada nên việc Musk nhập cư vào đất nước này khá dễ dàng. Vài năm sau đó, thông qua chương trình chuyển tiếp đại học (college transfer) tới Đại học Pennsylvania, anh đặt chân đến Mỹ.

Thời gian ở trường đại học, Musk bắt đầu nghĩ về những việc muốn làm với cuộc đời của mình bằng cách đặt câu hỏi: "Điều gì có tác động lớn nhất đối với tương lai nhân loại?" và anh có câu trả lời với một danh sách gồm 5 thứ: "Internet; năng lượng bền vững; khám phá vũ trụ, đặc biệt là tìm kiếm những hành tinh có thể tồn tại sự sống như Trái Đất; trí thông minh nhân tạo và tái lập trình bộ mã di truyền của loài người".

Musk không hề chắc chắn về liệu rằng trí thông minh nhân tạo và tái lập trình bộ mã di truyền của loài người sẽ có tác động tích cực như thế nào và mặc dù là người khá lạc quan về 3 suy nghĩ đầu tiên (trong danh sách trên) nhưng anh cũng chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ tham gia vào lĩnh vực khám phá vũ trụ. Anh còn hai lựa chọn là Internet và năng lượng bền vững.

Cuối cùng, Musk quyết định theo đuổi năng lượng bền vững. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh đăng ký chương trình đào tạo tiến sĩ của trường Đại học Stanford để nghiên cứu sâu hơn về các tụ điện có mật độ năng lượng cao – một công nghệ hướng đến việc tìm kiếm giải pháp dự trữ năng lượng hiệu quả hơn so với các loại pin truyền thống – điều mà anh biết rằng sẽ là yếu tố cốt lõi cho tương lai của năng lượng bền vững và giúp đẩy nhanh sự xuất hiện của ngành công nghiệp sản xuất xe điện.

Tuy nhiên, chỉ 2 ngày sau khi khóa học bắt đầu, hội chứng FOMO (Fear of missing out) hay còn được biết đến với tên gọi "sợ bỏ lỡ" bắt đầu khiến Musk nhấp nhổm, lo lắng. Thời điểm đó là năm 1995 (Internet mới bắt đầu chớm nở) và anh "không thể chịu đựng được cảnh "nhìn" Internet trôi qua từng ngày – chỉ muốn ngay lập tức nhảy vào và cải tạo nó".Chính vì vậy, Musk bỏ học và quyết định thử vận may với Internet.

Bước di chuyển đầu tiên của anh đó là cố gắng được vào làm tại công ty được xem là "con quái vật" về Internet vào thời đó – Netscape. Anh sử dụng chiến thuật đột ngột xuất hiện và lảng vảng ở sảnh công ty, đứng ngây người ra, thể hiện sự xấu hổ không dám bắt chuyện với người khác và bỏ đi ngay sau đó. Tuy nhiên, "kế hoạch hoàn hảo" này thất bại thảm hại.

Sau chiến dịch tìm việc không mấy ấn tượng, Musk hợp tác với em trai mình – Kimbal để thành lập một công ty của riêng họ và đặt tên là Zip2. Zip2 giống như sự kết hợp một cách sơ khai của Yelp và Google Maps mà vào thời đó, chưa hề có bất cứ thứ gì tương tự như vậy xuất hiện. Mục tiêu của họ là khiến cho các hãng kinh doanh nhận ra rằng việc có tên trên "Những trang vàng" (Yellow Pages) rồi sẽ tới lúc lỗi thời và đã đến lúc cần phải tham gia vào một "danh bạ trực tuyến". Hai anh em không một xu dính túi, phải ngủ và tắm nhờ tại văn phòng của YMCA (Hiệp hội thanh niên Cơ đốc). Musk – lúc đó, là lập trình viên chính – phải ngồi hàng giờ trước máy tính để làm việc và thách thức của cả hai đó chính là vào năm 1995, thật khó để thuyết phục các doanh nghiệp tin rằng Internet có vai trò quan trọng – nhiều trong số đó còn nói quảng cao trực tuyến giống như "chuyện ngớ ngẩn nhất mà họ từng nghe vậy". Tuy nhiên, cuối cùng thì hai người cũng bắt đầu có khách hàng và công ty dần phát triển. Trong giai đoạn Internet bùng nổ (những năm 1990), các công ty khởi nghiệp được mua đi bán lại rất nhộn nhịp và năm 1999, Compaq mua lại Zip2 với giá 307 triệu USD. Musk thu về 22 triệu USD. Khi đó, anh khoảng 27 tuổi.

Đúng với con người của Musk, sau khi kết thúc một công ty, anh ngay lập tức sẽ nghiên cứu và cho ra đời một cái mới hơn, phức tạp hơn với độ khó khăn gấp nhiều lần.

Một thông lệ của các triệu phú "thời bong bong dot.com" đó là sau khi đã đạt được thành công nào đó, họ hoặc sẽ rút rui vào hậu trường để tận hưởng những thú vui và làm việc như những nhà đầu tư thiên thần (những người giàu có, có khả năng cấp vốn cho một doanh nghiệp mới thành lập khác để đổi lấy quyền sở hữu một phần công đó) hoặc nếu vẫn còn tham vọng, sẽ thành lập một công ty mới bằng tiền của người khác. Tuy nhiên, Musk là người thích "phá luật". Anh không lựa chọn con đường nhàn hạ đó và quyết định dồn ¾ số tiền có trong tay để thực hiện một ý tưởng mới – một kế hoạch táo bạo với mục tiêu xây dựng một ngân hàng trực tuyến chuyên cung cấp các dịch vụ kiểm tra số dư tài khoản, tiền gửi tiết kiệm và tài khoản của các nhà môi giới có tên X.com. Nghe có vẻ không có gì ngạc nhiên trong thời buổi hiện nay nhưng vào năm 1999, một công ty khởi nghiệp về Internet lại có ý định cạnh tranh với các "đại gia" ngân hàng là điều chưa bao giờ tồn tại.

Một trong nhiều điểm nổi bật của X.com đó là dịch vụ chuyển tiền thuận tiện và về sau, Confinity - một công ty tài chính Internet khác cùng tòa nhà với X.com, được thành lập bởi Peter Thiel và Max Levchin – cũng phát triển một dịch vụ tương tự. Cả hai công ty đều nhận ra được nhu cầu rất lớn của dịch vụ chuyển tiền dẫn tới một cuộc cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Sau này, X.com và Confinity đã được sáp nhập lại với nhau tạo thành một công ty mới mà ngày hôm nay, đa phần ai cũng biết, đó chính là PayPal.

Thương vụ sáp nhập này, một mặt, tạo ra nhiều thuận lợi nhưng cũng đồng thời quy tụ nhiều "cái tôi" được xem là căn nguyên của hàng loạt mâu thuẫn không đáng có. Minh chứng là dù phát triển nhanh chóng song nội bộ lại thiếu hòa khí và đến cuối năm 2000, xung đột lên đến đỉnh điểm. Những người chống lại Musk đã tiến hành "đảo chính" và đưa Thiel lên làm giám đốc điều hành. Dù vậy, Musk vẫn là người đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của công ty sau thời gian đó và là nhân tố cốt lõi trong thương vụ bán PayPal cho eBay với giá 1,5 tỷ USD vào năm 2002. Anh (khi đó là cổ đông lớn nhất) ra đi với 180 triệu USD bỏ túi.

Năm 2002, trước khi thương vụ bán PayPal cho eBay hoàn tất, Musk đã bắt đầu nghiên cứu về công nghệ tên lửa và cuối năm đó, với 100 triệu USD trong tay, anh khởi sự việc xây dựng một trong những công ty chưa từng ai nghĩ tới: một công ty tên lửa có tên là SpaceX với mục tiêu cách mạng hóa chi phí du hành vũ trụ để giúp con người trở thành một sinh vật có thể tồn tại được trên nhiều hành tinh thông qua quá trình "thuộc địa hóa" sao Hỏa với ít nhất 1 triệu "cư dân" trong thế kỷ tới.

Năm 2004, khi "dự án" này vừa mới đi vào hoạt động, Musk lại tiếp tục xây dựng thêm một công ty "không tưởng" khác: một công ty sản xuất xe điện có tên là Tesla với mục đích cách mạng hóa ngành công nghiệp ô tô trên toàn thế giới bằng cách đẩy nhanh sự hình thành của một thế giới chủ yếu sử dụng xe điện – để giúp loài người thực hiện một bước nhảy vọt tới tương lai của năng lượng bền vững. Anh cũng tự bỏ tiền túi để thực hiện ý tưởng này – khoảng 70 triệu USD mặc dù thực tế rằng lần thành công nhất của một startup sản xuất xe hơi ở Mỹ là trường hợp hãng Chrysler năm 1925, sau đó, không hề có thêm một công ty mới thành lập nào thuộc lĩnh vực này thành công nữa cả.

Hai năm sau đó, Musk lại bỏ ra 10 triệu USD để cùng với các anh em họ của mình thành lập một công ty khác có tên là SolarCity. Mục tiêu của họ là cách mạng hóa việc sản xuất năng lượng bằng cách tạo ra một công trình hạ tầng kỹ thuật có thể được phân bổ và trên quy mô lớn nhằm lắp đặt các hệ thống pin năng lượng mặt trời cho hàng triệu hộ gia đình, góp phần giảm đáng kể lượng tiêu thụ điện năng được sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch và cuối cùng "đẩy nhanh việc đưa năng lượng bền vững vào sử dụng đại trà".

Khó khăn chồng chất

Nếu quan sát tất cả những sự kiện này trong 4 năm sau thương vụ bán PayPal, hẳn bạn sẽ nghĩ rằng đây là câu chuyện buồn về một triệu phú Internet mắc bệnh hoang tưởng, ôm đồm hàng loạt dự án bất khả thi và làm những thứ chỉ để phung phí số tiền mà gã đã kiếm được.

Đến năm 2008, SpaceX đã tìm ra cách sản xuất tên lửa nhưng chúng không hoạt động thực sự - ở thời điểm đó, họ đã phóng thử tên lửa 3 lần nhưng chúng đều nổ tung trước khi tiếp cận được quỹ đạo. Trong khi đó, để nhận được các nguồn đầu tư bên ngoài và các hợp đồng chuyên chở hàng hóa lên vũ trụ, SpaceX phải chứng minh được rằng họ có thể thực hiện thành công các đợt phóng tên lửa. Musk rối bời khi anh chỉ đủ tiền để thực hiện duy nhất một lần phóng nữa và nếu cũng thất bại thì SpaceX sẽ bị xóa sổ.

Trong khi đó, ở vịnh San Francisco, Tesla cũng rơi vào tình trạng khốn đốn. Họ vẫn chưa thể ra mắt thị trường chiếc xe đầu tiên – Tesla Roadster và Valleywag – một blog chuyên đưa chuyện đã đánh giá Tesla Roadster là thất bại công nghệ số 1 trong năm 2007. Nếu như nền kinh tế toàn cầu không đột nhiên đi xuống thì mọi chuyện có lẽ tốt hơn. Tuy nhiên, thực tế là dòng chảy đầu tư vào ngành ô tô bị ngưng lại hoàn toàn, đặc biệt là đầu tư vào những công ty sản xuất ô tô mới thành lập. Tesla bắt đầu cạn vốn.

Trong khi đang rơi vào tình thế khốn cùng như vậy thì cuộc hôn nhân kéo dài 8 năm của Musk – tưởng chừng ổn định và bền vững – cũng kết thúc trong một cuộc li dị phức tạp và đau đớn (Urban bình luận sự kiện này đó là thứ gì ổn định và bền vững cũng đồng nghĩa với việc bạn có khả năng sẽ mất nó mãi mãi).

Tuy nhiên, đây mới là điều quan trọng – Musk không phải là kẻ ngốc và anh chưa từng tạo ra một công ty nào tồi tệ cả. Ngược lại, chúng còn rất, rất phát đạt. Vấn đề chỉ là việc tạo ra một tên lửa thực sự hay phát triển một công ty sản xuất ô tô là điều vô cùng khó. Và bởi vì không ai muốn đầu tư vào một thứ gì đó (chưa hề có tiền lệ) quá tham vọng, quá hoang tưởng và chắc chắn thất bại – đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng – nên Musk buộc phải dựa vào chính nguồn lực của mình. PayPal đã giúp anh giàu nhưng số tiền thu được chưa đủ lớn để mình anh có thể giữ cho các công ty của mình tồn tại lâu dài. Nếu thiếu nguồn tiền từ bên ngoài, cả SpaceX lẫn Teslas sẽ sớm sụp đổ. Bản chất cả hai đều không phải là những ý tưởng tồi – chỉ là họ cần thêm thời gian để thành công trong khi thời gian lại không còn nhiều nữa.

Và rồi, khi ở thời khắc tăm tối nhất, mọi thứ lại xoay vần.

Đầu tiên, vào tháng 8/2008, SpaceX phóng tên lửa thứ 4 và không ngờ rằng, nó thành công đúng như mong đợi.

Vậy là đủ để NASA tin tưởng Musk. Họ đã đánh cược khi giao cho SpaceX một hợp đồng trị giá 1,6 tỷ USD để thực hiện 12 đợt phóng tên lửa. Đường sống được kéo dài. SpaceX vẫn tồn tại.

Ngày hôm sau, vào đêm trước Giáng sinh năm 2008, Musk vét nốt số tiền cuối cùng để cứu Tesla và các nhà đầu tư cũng miễn cưỡng làm theo Musk. Vậy là Tesla cũng được cứu. Năm tháng sau, tình hình bắt đầu được cải thiện khi công ty nhận được thêm 50 triệu USD tiền đầu tư từ Daimler.

7 năm tiếp theo và những thành công đáng kinh ngạc của Elon Musk

Sau 3 lần phóng tên lửa thất bại, SpaceX đã thực hiện 20 lần phóng tiếp theo và tất cả đều thành công. Giờ đây, NASA đã trở thành khách hàng thường xuyên và còn nhiều công ty khác nữa, nhờ các cải tiến ở SpaceX đã giúp họ có thể chuyển hàng hóa lên vũ trụ với chi phí thấp nhất trong lịch sử. Ngoài ra, 20 lần đó cũng đã tạo nên nhiều cái "đầu tiên" cho một công ty tên lửa: tính tới nay, mới chỉ có 4 câu chuyện đưa được tàu vũ trụ vào quỹ đạo và quay trở về Trái Đất thành công là Mỹ, Nga, Trung Quốc và SpaceX. SpaceX hiện cũng đang thử nghiệm tàu vũ trụ mới có thể đưa người lên vũ trụ. Ngoài ra, họ cũng đang bận rộn với kế hoạch thiết kế một tên lửa lớn hơn có khả năng đưa được 100 người lên Sao Hỏa mỗi lần. Gần đây, SpaceX cũng đã nhận được một khoản đầu tư từ Google và Fidelity và hiện công ty này đang có giá trị khoảng 12 tỷ USD.

Dòng xe Model S của Tesla cũng đạt được thành công ngoạn mục, làm rung động cả ngành công nghiệp ô tô và đứng thứ hạng cao nhất từ trước tới nay (99/100) do Consumer Reports bình chọn, đồng thời có thứ hạng cao nhất trong lịch sử về mức độ an toàn do Ủy ban an toàn đường bộ quốc gia của Mỹ đánh giá (5,4/5). Vào cuối tháng 3 vừa qua, Tesla cũng đã tiến hành ra mắt Model 3 – chiếc ô tô điện có giá rẻ nhất (khoảng 35.000 USD) với khả năng tăng tốc từ 0 – 100km/h trong vòng chưa đầy 6 giây và mục tiêu sẽ sản xuất được 500.000 chiếc mỗi năm. Để đạt được điều này, Elon Musk đã tiến hành xây dựng nhà máy sản xuất pin lithium-ion Gigafactory với khoản đầu tư lên tới 5 tỷ USD tại Sparks, Nevada, Mỹ.

Năm 2012, SolarCity chính thức cổ phần hóa và trở thành một trong những công ty lắp đặt pin Mặt Trời lớn nhất của Mỹ. Mới đây, Tesla đã đạt được thỏa thuận mua lại công ty này với giá 2,6 tỷ USD, thấp hơn so với con số 2,8 tỷ USD mà họ đề xuất trước đó.

Nhưng như thế vẫn chưa đủ, vào thời gian rảnh rỗi, Musk còn nghiên cứu và thúc đẩy việc phát triển một phương thức vận chuyển mới – hệ thống tàu siêu tốc Hyperloop.

Trong vài năm tới, khi các nhà máy mới được hoàn thiện, các công ty của Musk sẽ tuyển thêm khoảng 30.000 nhân công. Sau khi gần như phá sản vào năm 2008 và rơi vào tình cảnh phải "chuyển tới sống ở tầng hầm nhà bố mẹ vợ" thì tính đến năm 2016, giá trị tài sản của Elon Musk khoảng 14,4 tỷ USD.

Tất cả những điều trên đã biến Elon Musk gần như trở thành một huyền thoại sống. Trong việc xây dựng thành công một hãng sản xuất ô tô và mạng lưới trạm tiếp nhiên liệu trên toàn thế giới, Musk được so sánh với các nhà tư bản công nghiệp có tầm nhìn xa trông rộng như Henry Ford và John D. Rockefeller. Những công trình tiên phong của côngnghệ tên lửa do SpaceX tạo ra đã đưa Musk lên đứng ngang hàng với Howard Hughes và nhiều người thậm chí còn nhận thấy những điểm tương đồng giữa Musk và Thomas Edison bởi vì những tiến bộ kỹ thuật mà Musk đã đạt được trên nhiều lĩnh vực. Nhưng phổ biến nhất vẫn là sự so sánh giữa anh và Steve Jobs vì ở anh có năng lực phi thường để tạo ra những khác biệt trong những ngành công nghiệp quy mô lớn vốn đã tồn tại từ lâu đời với những thứ mà khách hàng thậm chí còn không biết là họ muốn có chúng. Một vài người tin rằng, Musk sẽ được nhớ đến nhiều hơn tất cả những người khác. Nhà báo công nghệ và cũng là người viết cuốn tiểu sử về Musk đã cho rằng những gì mà Musk đang xây dựng "có khả năng vĩ đại hơn bất cứ thứ gì mà Hughes hay Jobs đã tạo ra. Musk đã tiếp nhận những ngành công nghiệp như hàng không vũ trụ và ô tô mà Mỹ dường như đã từ bỏ và thổi vào chúng những điều gì đó hết sức mới mẻ và tuyệt vời".

Chris Anderson – người đang điều hành TED Talks tôn vinh Musk là "doanh nhân đáng kính nhất đương đại". Những người khác gọi anh là "Iron Man ngoài đời thực" và họ có lý do chính đáng cho việc đó. Jon Favreau quả thực đã cử nam diễn viên Robert Downey tới nhà máy của SpaceX để trò chuyện với Musk trước khi khởi quay bộ phim Iron Man (Người sắt) để diễn viên này có thể mô phỏng hình tượng Musk trong vai diễn của mình.

Trong lần trao đổi với tôi qua điện thoại, Musk nói rõ rằng anh không tìm đến tôi để nhờ quảng cáo cho các công ty của mình mà chỉ muốn tôi giúp anh lý giải những gì đang xảy ra trong các thế giới xung quanh những công ty đó và tại sao những thứ lại đang xảy đến với những chiếc xe điện, với việc sản xuất năng lượng bền vững và với hàng không vũ trụ lại có tầm quan trọng đến vậy.

Musk đặc biệt cảm thấy nhàm chán với những người dành thời gian để viết về anh. Theo Musk, có vô vàn điều quan trọng hơn đang diễn ra trong những lĩnh vực mà anh tham gia vào và cứ mỗi lần có ai đó viết về mình, anh lại ước họ viết về nhu cầu năng lượng hóa thạch hay những cải tiến trong việc sản xuất in hay tầm quan trọng của việc đưa con người lên những hành tinh khác còn hơn (điểm này được thể hiện rất rõ trong cuốn Tiểu sử về Elon Musk – ngay trong lời giới thiệu tác giả đã nêu rất rõ rằng Musk không cảm thấy hào hứng khi có người viết tiểu sử về mình).

Vậy nên, tôi chắc chắn tựa đề bài viết "Elon Musk: The World's Raddest Man" (Tạm dịch: Elon Musk – người đàn ông có tư tưởng cấp tiến nhất thế giới) sẽ khiến anh ấy khó chịu lắm.

Nhưng tôi có lý do của tôi. Với tôi, có hai lý do rất đáng để thực hiện "cuộc khám phá" về cuộc đời con người này:

1. Để tìm hiểu tại sao Musk lại làm những điều mà anh đang làm: Musk rất tin tưởng rằng anh quan tâm tới những gì có thể mang lại cho con người cơ hội tốt nhất để kiến tạo một tương lai tốt đẹp. Tôi muốn khai thác sâu những điều đó và tìm hiểu lý do tại sao anh ấy lại quan tâm đến chúng.

2. Để hiểu tạo sao Musk lại có thể làm được những điều mà anh đang làm: Con số những người làm thay đổi cả thế giới ở mỗi thế hệ chỉ đếm trên đầu ngón tay nên họ rất xứng đáng để được nghiên cứu. Họ có những cách làm khác với tất cả mọi người và tôi nghĩ rằng chúng ta có vô vàn điều cần học hỏi từ họ.

+
1 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

Dấu Mốc ấn Tượng Trên Hành Trình Từ Giáo Viên Nghèo Đến Tỷ Phú Quyền Lực Của Jack Ma

Ngay từ năm 15 tuổi, Jack Ma đã tạo nên sự khác biệt khi đứng đợi ở cửa khách sạn để bắt chuyện và làm hướng dẫn viên du lịch cho người ngoại quốc. Chính sự ham học hỏi cùng với cơ hội được ra nước ngoài mở mang tầm mắt đã tạo nên dấu mốc trong sự nghiệp đáng ngưỡng mộ của tỷ phú Trung Quốc.

15 tuổi - làm hướng dẫn viên du lịch "tay ngang"

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình bình thường tại Hàng Châu, Chiết Giang - một địa điểm du lịch nổi tiếng của Trung Quốc, ngay từ năm 15 tuổi, Jack đã thường xuyên đạp xe đến trung tâm tỉnh, đợi ở cửa khách sạn để bắt chuyện và làm hướng dẫn viên cho du khách nước ngoài. Thời điểm đó là những năm đầu thập niên 80, khi Trung Quốc mở cửa hội nhập với các doanh nghiệp thế giới. Khách du lịch lúc này đối với dân bản địa không khác gì "người ngoài hành tinh đến từ tương lai" vì sự khác biệt về tư tưởng, văn hóa hay đơn giản là vóc dáng bên ngoài. Thế nhưng, một cậu bé "nhỏ con" đã bạo dạn tiếp cận và tìm cho mình lối đi riêng.

19 tuổi - lần đầu được mở rộng tầm mắt khi ra nước ngoài

Với công việc "tay ngang" từ thuở niên thiếu, Jack kịp giữ liên lạc với một gia đình người Úc. Đến nă m 19 tuổi, ông có dịp sang thăm họ. Chuyến đi kéo dài một tháng đó thực sự đã thay đổi cuộc đời Jack khi ông được chứng kiến cuộc sống hiện đại ở một đất nước khác, mở rộng tầm mắt và khai sáng tâm trí. Trở về, Jack tiếp tục nuôi hy vọng đặt chân vào ngưỡng cửa đại học. Sau 3 lần thi trượt, cuối cùng, Jack Ma cũng đỗ khoa Tiếng Anh của đại học sư phạm Hàng Châu. Tại đây, ông tiếp tục có cơ hội nghiên cứu, rèn luyện thứ ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới và đánh dấu bước đầu tiên cho vạch xuất phát: một giáo viên tiếng Anh với mức lương 12USD/tháng.

29 tuổi - lần đầu đến Mỹ và biết trang tin Yahoo

Ra trường năm 1988, ông nộp đơn xin việc tại hàng chục công ty nhưng đều bị từ chối. Thậm chí cả cửa hàng thức ăn nhanh KFC ở Hàng Châu cũng không tuyển dụng Jack Ma.

Sau nhiều biến cố, ở tuổi 29, Jack trở thành phiên dịch viên cho một phái đoàn thương mại tại Mỹ. Đây tiếp tục là chuyến đi định mệnh của Jack Ma khi lần đầu tiên ông biết đến trang tin của Yahoo cùng cách họ kết nối người dùng internet. Những trăn trở về một website thương mại điện tử giúp cho các doanh nghiệp Trung Quốc có thể giao lưu buôn bán với thế giới bắt đầu từ đây.

Sau chuyến đi, Jack hiểu, bản thân cần bắt đầu một công ty trực tuyến tại Trung Quốc. Trở về quê hương, Jack Ma thành lập trang China Page – trang vàng danh bạ của các công ty Trung Quốc, liên doanh với China Telecom nhưng ông sớm gặp thất bại vào năm 1996.

35 tuổi - nhận tài trợ vốn từ ngân hàng đầu tư

Thế nhưng, năm 1999 lại là một năm quan trọng đối với tỉ phú Jack Ma, ở tuổi 35, Jack nhận được tài trợ vốn từ ngân hàng đầu tư hàng đầu thế giới - Goldman Sachs - cho công ty Alibaba. Một năm sau đó, ở tuổi 36, Jack tiếp tục nhận được tài trợ đầu tư 20 triệu USD từ tỷ phú công nghệ Masayoshi Son.

Trong khi các công ty của Mỹ như Ariba chỉ tập trung vào các dịch vụ giúp tiết kiệm chi phí cho các tập đoàn lớn, tỷ phú sinh năm 1964 lại hướng Alibaba cung ứng các dịch vụ giúp doanh nghiệp nhỏ đến siêu nhỏ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Đây là một công thức đúng đắn dựa vào tình hình kinh tế của Trung Quốc khi đó bởi trong khi những tập đoàn lớn vẫn còn hiếm hoi, những hộ kinh doanh nhỏ lẻ lại như "nấm sau mưa".

Tính đến thời điểm tháng 8/2014, theo chỉ số tỷ phú của Bloomberg, Jack Ma đã sở hữu khối tài sản 21,9 tỷ USD và nắm giữ 9% cổ phần trong tập đoàn Alibaba. Tới tháng 4/2016, tỷ phú 6X đã sở hữu tổng giá trị tài sản hơn 30 tỷ USD và trở thành người đàn ông giàu nhất châu Á.

3 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

HUYME - Thành công vì có trái tim nhân hậu và tâm hồn đẹp như tranh?

Có một điều mà không thể phủ nhận là Công Thành (tên thật của Vlogger HuyMe) ngoài sự điển trai còn có một khiếu nói chuyện hóm hỉnh không chỉ trên các video của mình, mà còn ngay cả một cuộc đối thoại online. Dù ngắn nhưng có thể thấy chàng trai này khá lém lỉnh và biết cách chọc cười người khác.

o69tigG.jpg

Đã hơn 3 năm từ ngày đầu tiên bước vào thế giới Internet cùng Youtube, ngoài sự nổi tiếng, nó còn đem lại cho bạn những gì?

Mình nghĩ là ngoài sự nổi tiếng ra thì cũng không có gì thay đổi quá nhiều.

Có sự phiền toái nào không?

Đôi khi mình không thoải mái khi phải làm vừa lòng một lượng lớn người xem, hoặc đôi khi có những bạn nhắn tin nhưng mình không trả lời được trên facebook thì thường nhảy vào chửi luôn (cười). Tuy nhiên thì sự phiền toái như thế cũng không phải quá nhiều.

Vừa bước sang tuổi 22, có một Vlog mới, thấy Thành ngoại hình khác hồi xưa rất nhiều, tính cách thì sao?

Về tính cách thì mình trở nên tự tin hơn trước, nhưng đôi khi cũng khép kín hơn trên mạng xã hội về cuộc sống cá nhân.

Khá nhiều Vlogger đều là du học sinh, theo bạn là tại sao?

Theo mình khi đi du học, giao tiếp với người nước ngoài và ở môi trường tự do sẽ dễ dàng để bạn nói lên quan điểm của mình một cách tự tin. Thêm vào đó là tác động môi trường sẽ khiến bạn có nhiều ý tưởng hơn, ít nhất đối với mình là như vậy.

Có phải đó là một cách để giải quyết sự cô đơn, và nhu cầu muốn chia sẻ?

Cô đơn thì không hẳn, vì ngay cả hồi đi du học mình cũng có nhiều bạn bè nhưng vẫn muốn làm video. Đối với mình thì youtube như là công cụ chia sẻ để bạn bè ở Việt Nam cho đỡ nhớ nhau và một phần nào đó là kết nối với những người bạn mới chưa quen, bạn nữ nào đó chẳng hạn.

Sau một thời gian thấy Thành có rất nhiều người bạn cũng là Vlogger, có sự cạnh tranh nào với nhau không?

Bọn mình có lẽ cũng có một sự cạnh tranh ngầm nhất định, tuy nhiên không ảnh hưởng gì đến tình bạn. Sự ganh đua một chút đôi khi cũng tốt vì nó làm bạn cố gắng để trở nên hoàn thiện hơn. Đối với mình thì mình thường tập trung làm tốt nhất sản phẩm của mình thôi.

Theo Thành, bạn thành công do mình hài hước, hay điển trai?

Mình thành công là vì có trái tim nhân hậu và tâm hồn đẹp như tranh vẽ. (cười)

hAkdHvI.jpg

Vlog cũng có thể coi là một dạng nhật ký, vậy Thành có xem lại nó thường xuyên không? Và cảm thấy sao?

Đôi khi mình cũng xem lại, để thấy được những cái ngô nghê của mình khi mới bắt đầu và thấy được mình đã thay đổi như thế nào.

Nguồn cảm hứng của Thành chủ yếu đến từ đâu?

Từ cuộc sống xung quanh, một vấn đề nào đó đang hot của xã hội, từ bạn bè, từ phim ảnh và từ những câu chuyện trên mạng nữa. Nhưng video của mình chủ yếu nói về cá nhân

“Dám thể hiện những gì mình nghĩ, cho dù người khác cho mình là điên”, đã ai nói Thành điên chưa?

Nhiều lắm nhưng kiểu điên này chắc cũng không đáng sợ lắm đâu nhỉ!

Nếu gặp ở ngoài, Thành có nhí nhố như trên các Vlog của mình không?

Mình ở ngoài trầm tính và điềm đạm hơn, nhưng đôi khi sự nhí nhố vẫn “phọt” ra ngoài.

Và nếu Vlog hết thời, chắc Thành sẽ làm họa sĩ như những gì mình đã học? Hoặc Thành có ước mơ nào khác không?

Mình sẽ quay lại học trong tương lai để tốt nghiệp Đại học. Tuy nhiên hiện tại mình cũng đang cố gắng thử sức trong một số vai trò nhỏ trên phim. Tất cả mới chỉ là khởi đầu và mình hy vọng sẽ tốt đẹp.

1 lượt tuyệt 0 lượt bình luận
class Câu chuyện

Evan Spiegel - Từ tỷ phú có gương mặt trẻ thơ đến hôn phu của Miranda Kerr

Tháng 6/2012, Evan Spiegel băng qua sân khấu dựng tạm bên trong sân vận động của trường đại học Stanford để nhìn bạn bè cùng trang lứa tới nhận bằng tốt nghiệp, điều mà chàng trai 22 tuổi khi ấy không thể thực hiện được.

Việc Evan Spiegel có mặt tại Stanford hôm đó cũng chưa chắc đã là chủ ý của anh chàng, mà phần lớn là bởi lời mời từ lãnh đạo trường đại học này, với hy vọng khơi lên ngọn lửa ham học và khát vọng nhận bằng chàng sinh viên khoa thiết kế sản phẩm, người chỉ còn thiếu vài tín chỉ nữa là hoàn thành khóa học 4 năm tại đây.

Evan Spiegel vẫn còn nhớ rõ cảm giác xấu hổ khi bạn bè và bố mẹ đều có mặt tại buổi lễ ngày hôm đó, nhưng anh vẫn lựa chọn từ bỏ trường đại học.

Evan Spiegel chưa từng nói về lý do không tiếp tục lấy bằng, nhưng trong bài phát biểu với sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh USC hồi tháng 5/2015, anh nhấn mạnh việc "không tầm thường hóa bản thân", bằng cách lắng nghe tiếng gọi của tâm hồn và làm theo lời dẫn dắt từ chính con người mình.

Giờ đây, Evan Spiegel chứng minh được điều mà anh nói: Xuất hiện theo cách khác thường và trở thành sáng lập kiêm điều hành Snapchat

Với Snapchat, Evan Spiegel thậm chí bị coi là "gã điên", bởi thời gian đầu, với ngay cả những nhà đầu tư lạc quan nhất, một ứng dụng nhắn tin và đăng ảnh tổn tại trong chốc lát chẳng mang lại lợi ích cho bất cứ ai hết. Ấy vậy mà trái ngược với dự kiến và đúng như những gì Evan Spiegel theo đuổi, Snapchat giờ đây làm mưa làm gió trên thị trường.

Theo thống kê của Forbes, mỗi ngày, có 100 triệu người giao tiếp qua Snapchat. 60% thanh niên Mỹ ở tuổi 13-34 có smartphone đều cài đặt ứng dụng của Evan Spiegel. Anh trở thành " tỷ phú có gương mặt trẻ thơ" ở tuổi 25, được nêu tên trong danh sách của Forbes với 2,1 tỷ USD tài sản.

Tháng 7/2016, Evan Spiegel đính hôn với người bạn gái nổi tiếng, cũng chính là cựu thiên thần nội y Miranda Kerr - một trong những người phụ nữ đẹp nhất thế giới. Cuộc đời Evan Spiegel dường như đủ đầy, với danh tiếng, tiền bạc và cuộc sống riêng hạnh phúc.

Miranda Kerr giờ đây là cái tên hot sau Snapchat gắn liền với tỷ phú 26 tuổi Evan Spiegel.Miranda Kerr giờ đây là cái tên hot sau Snapchat gắn liền với tỷ phú 26 tuổi Evan Spiegel.

Thế nhưng, mặt tối trong con người của Evan Spiegel xuất hiện trên truyền thông không ít hơn so với phần nổi tiếng của anh. Cuộc ly hôn ồn ào của cha mẹ anh khiến tên tuổi của Evan Spiegel được lưu trong hồ sơ tại tòa án, và trở thành "món mồi" trên mặt báo từ năm 2013.

Hình ảnh của Spiegel thậm chí trở nên xấu xí khi những email thời sinh viên của anh bị phát tán, tiết lộ những cuộc ăn chơi trác táng, thói đàn đúm tiệc tùng, lối sống tình dịch phóng khoáng và cả những quan điểm thiếu tế nhị về phụ nữ. Khi đó, Spiegel đã gửi lời xin lỗi, và khẳng định những email chỉ là một phần con người quá khứ của anh.

Sau những thông tin không tích cực về đời sống riêng, Evan Spiegel tự xây lên rào cản giữa anh và truyền thông, cũng như tìm nhiều cách để không có nguồn tin báo chí nào ở cạnh mình. Trụ sở của Snapchat được xây tường rào bảo vệ, phòng làm việc riêng chỉ cho phép một ngời duy nhất ra vào, hay nghiêm cấm lãnh đạo của công ty này trả lời phỏng ván.

Dẫu vậy, giấy khó có thể gói được lửa. Cá tính quản lý có phần độc tài của Spiegel chẳng bao lâu sau bị đồng nghiệp cũ chia sẻ trên mặt báo. Theo đó, việc tranh luận với Evan Spiegel được ví không khác gì viết sẵn một lá đơn xin từ chức.

Ông chủ của Snapchat thậm chí chỉ thích bàn chuyện công việc khi đi dạo trên bãi biển, để tránh bị người khác nghe lỏm. Mọi hoạt động của Snapchat, ở một khía cạnh nào đó, giống như Apple dưới thời Steve Jobs: luôn trong vòng bí mật, nhất là với giới truyền thông.

Giống như tôn chỉ khi xây dựng Snapchat là "giá trị thực nằm trong việc chia sẻ những khoảnh khắc chỉ tồn tại trong chốc lát", Evan Spiegel - kẻ tự nhận mình may mắn bởi cuộc sống không công bằng - muốn biến mình thành một "Evan vĩ đại", chỉ giữ lại những gì quan trọng nhất với mình, và xóa đi tất cả mọi thứ.

4 lượt tuyệt 0 lượt bình luận

Bộ sưu tập

www.000webhost.com